10:53, 29/06/2026

Quản lý phát triển xã hội theo hướng bảo đảm tính bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Trong bối cảnh thế giới và Việt Nam đang trải qua những biến đổi sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, xã hội số, các vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng đa dạng, phức tạp và mang tính liên thông cao. Quá trình phát triển không chỉ tạo ra những cơ hội mới, mà còn làm gia tăng nguy cơ phân hóa xã hội, bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, dịch vụ xã hội và các thành quả phát triển giữa các nhóm dân cư, vùng miền và tầng lớp xã hội. Bối cảnh đó đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới tư duy và phương thức quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam theo hướng bao trùm và bền vững.

Quản lý phát triển xã hội theo hướng bao trùm, bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay - Cơ sở lý luận và thực tiễn

Quản lý phát triển xã hội theo hướng bao trùm và bền vững

Quản lý phát triển xã hội được hiểu là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của Nhà nước và các chủ thể xã hội nhằm điều tiết các quan hệ xã hội, giải quyết hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và duy trì ổn định xã hội trong quá trình phát triển(1). Khác với quản lý hành chính thuần túy, quản lý phát triển xã hội mang tính tổng hợp, toàn diện và hướng tới quản trị sự phát triển của con người và xã hội trong dài hạn. Nội hàm của quản lý phát triển xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực, như lao động, việc làm, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, môi trường, dân cư, văn hóa, an ninh con người và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo dự Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số - Quốc hội số”_Ảnh: quochoi.vn
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo dự Hội nghị chuyên đề “Bình dân học vụ số - Quốc hội số”_Ảnh: quochoi.vn

Quản lý phát triển xã hội theo hướng bao trùm và bền vững là một yêu cầu có tính tất yếu khách quan, được hình thành trên nền tảng kết hợp giữa lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Việc xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho định hướng này không chỉ nhằm bảo đảm tính khoa học, mà còn tạo nền tảng phương pháp luận cho việc hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách phát triển xã hội.

Quan điểm của Đảng về quản lý phát triển xã hội được hình thành và hoàn thiện dần cùng với tiến trình đổi mới đất nước. Từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng đã xác định: “Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(2). Từ Đại hội IX (năm 2001) đến Đại hội XI (năm 2011), Đảng ta nhấn mạnh quan điểm phát triển toàn diện, xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của chiến lược phát triển; đồng thời, đề cao yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền con người gắn với quyền và lợi ích của dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân(3).

Từ năm 2016 đến nay, Đảng tiếp tục khẳng định quản lý phát triển xã hội phải hướng tới phát triển bền vững, gắn chặt chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm người dân được thụ hưởng ngày càng tốt hơn thành quả đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu nhận thức đầy đủ vai trò của phát triển xã hội bền vững; xây dựng chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; đồng thời quản lý hiệu quả các quan hệ xã hội, xử lý hài hòa các mâu thuẫn và vấn đề xã hội phát sinh(4).

Đại hội XIII đã kế thừa và tiếp tục phát triển quan điểm này khi khẳng định yêu cầu tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, chú trọng tính bền vững của các chính sách phúc lợi, an sinh và an ninh con người; triển khai đồng bộ các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường gắn với đổi mới phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả phát triển xã hội(5). Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh đổi mới và hoàn thiện thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững, tăng cường sự tham gia của các chủ thể, sự giám sát của Nhân dân; sự gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội”(6). Như vậy, nhận thức của Đảng về quản lý phát triển xã hội ngày càng toàn diện, hiện đại và tiệm cận với xu hướng quản trị phát triển tiên tiến trên thế giới.

Trong mô hình quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” giữ vai trò nền tảng. Đảng giữ vai trò hoạch định đường lối, định hướng chiến lược; Nhà nước thể chế hóa chủ trương thành chính sách và tổ chức thực hiện; nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển. Đồng thời, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng ngày càng được đề cao nhằm huy động sức mạnh tổng hợp trong quản trị xã hội hiện đại. Đây là đặc trưng quan trọng của mô hình quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Gắn liền với quản lý phát triển xã hội là yêu cầu phát triển bao trùm và phát triển bền vững. Phát triển bao trùm là quá trình phát triển mà mọi người dân đều có cơ hội tham gia, tiếp cận nguồn lực và hưởng lợi từ thành quả phát triển, không để nhóm xã hội nào bị gạt ra bên lề của tiến trình phát triển. Đây không chỉ là vấn đề phân phối thành quả kinh tế, mà còn là bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng đối với giáo dục, y tế, việc làm, công nghệ và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Quan điểm phát triển bao trùm được thể hiện rõ trong các văn kiện Đại hội của Đảng, với yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” và “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Thực tiễn phát triển ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, nhờ thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021(7). Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số cũng đang đặt ra nguy cơ hình thành những bất bình đẳng mới, đặc biệt là khoảng cách số giữa các vùng miền và các nhóm xã hội.

Mặc dù tỷ lệ người sử dụng internet tại Việt Nam đạt trên 80% dân số(8), song mức độ tiếp cận và kỹ năng số giữa thành thị và nông thôn vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể. Một bộ phận người nghèo, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi và lao động trình độ thấp còn hạn chế trong khả năng tiếp cận công nghệ số và dịch vụ số. Điều đó cho thấy phát triển bao trùm trong thời đại số không chỉ là bảo đảm hạ tầng công nghệ, mà còn phải tạo điều kiện để mọi người dân có kỹ năng số, khả năng tiếp cận thông tin và cơ hội tham gia bình đẳng vào nền kinh tế số và xã hội số.

Bên cạnh quan điểm phát triển bao trùm, thì phát triển bền vững cũng là yêu cầu có tính chiến lược đối với quản lý phát triển xã hội hiện đại. Có thể hiểu, phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững dựa trên 3 trụ cột cơ bản gồm: kinh tế, xã hội và môi trường. Kế thừa tinh thần của các đại hội trước, Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo: “Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, toàn diện, bao trùm, bền vững; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, quá trình già hoá dân số, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh”(9).

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam càng trở nên cấp thiết khi đất nước đang chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và già hóa dân số. Với đường bờ biển dài 3.260km, Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ nước biển dâng. Theo ước tính, nếu mực nước biển tăng thêm 1 mét, khoảng 10% dân số và 12% diện tích đất nông nghiệp có thể bị ảnh hưởng(10). Đồng thời, mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ đang bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải chuyển sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế số. Điều này cho thấy, phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu về môi trường, mà còn là yêu cầu tái cấu trúc mô hình phát triển và quản trị xã hội trong dài hạn.

Phát triển bao trùm và phát triển bền vững có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Bao trùm là điều kiện để duy trì ổn định xã hội và tạo đồng thuận trong phát triển; ngược lại, phát triển bền vững là nền tảng để bảo đảm lợi ích lâu dài giữa các thế hệ. Nếu tăng trưởng kinh tế không đi kèm công bằng xã hội, khoảng cách giàu - nghèo sẽ gia tăng và gây bất ổn xã hội. Ngược lại, nếu chỉ chú trọng tăng trưởng ngắn hạn mà bỏ qua yếu tố môi trường và an sinh xã hội thì sẽ làm suy giảm chất lượng phát triển và ảnh hưởng đến tương lai lâu dài của đất nước.

Bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam và tác động của chuyển đổi số đến quản lý phát triển xã hội

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị quốc gia, tổ chức đời sống xã hội và tương tác giữa con người với con người. Dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, Internet vạn vật (IoT) và công nghệ số đang trở thành nguồn lực phát triển mới, tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank), kinh tế số toàn cầu hiện chiếm khoảng 15% GDP và con số này dự kiến sẽ tăng nhanh trong thập kỷ tới(11). Trong bối cảnh đó, năng lực chuyển đổi số và quản trị xã hội trên nền tảng số ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng, phản ánh sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, chuyển đổi số được xác định là một trong những động lực chiến lược để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”(12). Thời gian qua, quá trình chuyển đổi số đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trong đó các ngành kinh tế số lõi chiếm trên 60%, đồng thời mức độ số hóa trong các ngành, lĩnh vực ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thương mại, tài chính, dịch vụ hành chính và hạ tầng năng lượng(13). Tỷ lệ người dân sử dụng internet đạt trên 80%; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình ngày càng gia tăng(14); cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và định danh điện tử từng bước được hoàn thiện. Việt Nam cũng nhiều năm liên tiếp nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh ở khu vực Đông Nam Á.

Quá trình chuyển đổi số đã mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho quản lý phát triển xã hội. Công nghệ số góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; thúc đẩy xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số; mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, tài chính và các dịch vụ công cho người dân. Đồng thời, nền tảng số tạo điều kiện để người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình giám sát, phản biện và quản trị xã hội; qua đó, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy công quyền.

Chuyển đổi số tạo điều kiện nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của quản trị xã hội; từ đó, góp phần thực hiện công bằng xã hội theo giác độ thể chế. Các công cụ số giúp Nhà nước thu thập, phân tích dữ liệu xã hội chính xác hơn, qua đó thiết kế chính sách công phù hợp hơn với nhu cầu thực tế của từng nhóm dân cư. Khi quá trình hoạch định và thực thi chính sách được số hóa, khả năng giảm thiểu tham nhũng, lãng phí và thiên lệch trong phân bổ nguồn lực xã hội sẽ được tăng cường và đây chính là một yếu tố quan trọng để bảo đảm công bằng xã hội trong thực tiễn.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức phức tạp đối với đổi mới quản lý phát triển xã hội. Khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các nhóm dân cư vẫn còn đáng kể. Một bộ phận người dân, nhất là người nghèo, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và lao động trình độ thấp còn hạn chế trong khả năng tiếp cận công nghệ số. Tự động hóa và trí tuệ nhân tạo cũng làm gia tăng nguy cơ mất việc làm ở một số ngành nghề truyền thống. Các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày, lắp ráp điện tử đối diện với nguy cơ 70% việc làm bị thay thế bởi robot và AI trong 10 năm tới(15). Cùng với đó là những thách thức về an toàn dữ liệu, an ninh mạng, thông tin xấu độc và nguy cơ bất bình đẳng xã hội mới trên không gian số.

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới nội dung, phương thức quản lý phát triển xã hội theo hướng hiện đại, bao trùm và bền vững. Quản lý xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ trong quản lý hành chính, mà cần chuyển mạnh sang mô hình quản trị xã hội dựa trên dữ liệu, lấy con người làm trung tâm, tăng cường khả năng thích ứng và bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận cơ hội phát triển.

Quản lý phát triển xã hội theo hướng bảo đảm tính bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp

Thực trạng quản lý phát triển xã hội theo hướng bảo đảm tính bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong những năm gần đây, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam đã từng bước đổi mới phương thức quản lý phát triển xã hội theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ số và tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu. Quá trình này đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng, thực tiễn cũng cho thấy nhiều hạn chế, bất cập về tính bao trùm, tính bền vững và năng lực quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng diễn ra sâu rộng.

Việt Nam đã từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách và chiến lược phát triển phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Đại hội XIV của Đảng xác định chuyển đổi số là một trong những động lực chủ yếu để phát triển nhanh và bền vững đất nước(16). Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược, chương trình quan trọng, như Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030; Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030… Đồng thời, hệ thống chính sách an sinh xã hội cũng từng bước được điều chỉnh theo hướng ứng dụng công nghệ số trong quản lý và cung cấp dịch vụ công cho người dân.

Việc xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia là bước tiến quan trọng trong đổi mới quản lý xã hội. Đến nay, nhiều cơ sở dữ liệu lớn đã được triển khai như cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, bảo hiểm, tài chính, đất đai và hộ tịch điện tử. Theo Bộ Công an, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã thu thập 107 triệu dữ liệu công dân, kết nối 15 bộ, ngành và 34 địa phương, xử lý hơn 2,1 tỷ lượt xác thực. Ứng dụng VNeID đạt khoảng 67 triệu tài khoản, tích hợp 50 tiện ích. Cổng Dịch vụ công quốc gia cung cấp khoảng 4.700 thủ tục, tiếp nhận 11,5 triệu hồ sơ trực tuyến trong năm 2025, tiết kiệm hơn 4.000 tỷ đồng chi phí xã hội(17). Việc triển khai căn cước công dân gắn chip và tài khoản định danh điện tử VNeID đã giúp đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, giảm chi phí xã hội và tăng tính minh bạch trong quản lý nhà nước.

Từ mô hình chính phủ điện tử, Việt Nam đang từng bước chuyển sang chính phủ số. Theo Liên hợp quốc, Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam năm 2024 đứng thứ 71/193 quốc gia, tăng đáng kể so với giai đoạn trước(18). Hệ thống dịch vụ công trực tuyến ngày càng được mở rộng. Tính đến năm 2025, gần 100% bộ, ngành và địa phương đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao; tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến ở nhiều lĩnh vực đạt trên 80%. Việc số hóa thủ tục hành chính không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn góp phần giảm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số đã mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế và tài chính số. Trong giáo dục, nền tảng học trực tuyến, học liệu số và quản trị giáo dục thông minh phát triển mạnh sau đại dịch COVID-19. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm 2025, hầu hết các cơ sở giáo dục phổ thông và đại học đã triển khai hệ thống quản lý học tập trực tuyến và số hóa dữ liệu giáo dục. Trong lĩnh vực y tế, nhiều bệnh viện triển khai khám - chữa bệnh từ xa, hồ sơ sức khỏe điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt. Hệ thống khám - chữa bệnh từ xa đã kết nối hàng nghìn cơ sở y tế trên toàn quốc, giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao. Tài chính số và thanh toán điện tử cũng phát triển nhanh chóng. Theo Ngân hàng Nhà nước, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 tăng gấp nhiều lần so với giai đoạn trước dịch COVID-19; tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán đạt trên 87%(19). Những kết quả đó cho thấy, chuyển đổi số đã góp phần quan trọng trong đổi mới phương thức quản lý phát triển xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công cho người dân.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần được nhìn nhận đầy đủ và được xử lý hiệu quả, kịp thời, cụ thể:

Về tính bao trùm, khoảng cách số giữa các vùng - miền và nhóm xã hội vẫn còn khá lớn. Mặc dù tỷ lệ người sử dụng internet tại Việt Nam đạt trên 80% dân số, song khả năng tiếp cận hạ tầng số và kỹ năng số còn chênh lệch đáng kể giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi. Theo đó, tỷ lệ hộ gia đình có kết nối internet ở khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Một bộ phận người dân, đặc biệt là người nghèo, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số và lao động phi chính thức, còn gặp khó khăn trong việc sử dụng dịch vụ số do hạn chế về thiết bị, kỹ năng công nghệ và điều kiện tiếp cận thông tin.

Điều này dẫn tới nguy cơ hình thành bất bình đẳng mới trong xã hội số. Những nhóm có trình độ học vấn và khả năng tiếp cận công nghệ tốt sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận việc làm, giáo dục, dịch vụ tài chính và thông tin hơn, trong khi các nhóm yếu thế dễ bị bỏ lại phía sau. Thực tế cho thấy, trong thời kỳ dịch COVID-19, nhiều học sinh ở vùng khó khăn đã không thể tham gia học trực tuyến do thiếu thiết bị và đường truyền internet ổn định. Đây là biểu hiện rõ nét của khoảng cách số trong phát triển xã hội.

Hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng bảo hiểm xã hội số- VssID_Ảnh: thoibaotaichinhvietnam.vn
Hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng bảo hiểm xã hội số- VssID_Ảnh: thoibaotaichinhvietnam.vn

Về tính bền vững, sự phát triển của kinh tế số ở Việt Nam chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường và an sinh xã hội dài hạn. Kinh tế số phát triển nhanh nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn và lĩnh vực thương mại điện tử, dịch vụ nền tảng, trong khi chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn còn chậm. Việc gia tăng sử dụng thiết bị điện tử, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số cũng đặt ra áp lực lớn về tiêu thụ năng lượng và xử lý rác thải điện tử. Theo Liên hợp quốc, lượng rác thải điện tử toàn cầu tăng nhanh và Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tốc độ gia tăng rác thải điện tử cao ở khu vực Đông Nam Á.

Bên cạnh đó, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo đang tạo áp lực lớn đối với thị trường lao động. Một số ngành nghề thâm dụng lao động có nguy cơ bị thay thế bởi công nghệ số và robot. Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực số còn hạn chế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tuy được cải thiện, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và thị trường lao động mới.

Một hạn chế đáng chú ý khác là phương thức quản lý xã hội chậm chuyển từ “quản lý” sang “quản trị” hiện đại. Ở nhiều nơi, tư duy quản lý hành chính truyền thống vẫn còn phổ biến; việc điều hành chủ yếu theo cơ chế ngành dọc, thiếu tính liên thông và phối hợp đa ngành. Dữ liệu số còn phân tán, cục bộ giữa các bộ, ngành và địa phương, gây khó khăn cho việc chia sẻ và khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ quản lý xã hội. Mặc dù nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia đã được xây dựng, nhưng khả năng tích hợp và kết nối liên ngành còn hạn chế.

Ngoài ra, năng lực của đội ngũ cán bộ trong quản trị số chưa đồng đều. Một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế về kỹ năng số, tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với môi trường quản trị hiện đại. Tình trạng ngại thay đổi, e dè trách nhiệm và thiếu chủ động trong triển khai chuyển đổi số vẫn tồn tại ở một số cơ quan, địa phương. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đổi mới phương thức quản lý phát triển xã hội trong thực tiễn.

Giải pháp tăng cường quản lý phát triển xã hội theo hướng bảo đảm tính bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số

Để đổi mới phương thức quản lý phát triển xã hội theo hướng bảo đảm tính bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số, thời gian tới cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về thể chế, hạ tầng số, nguồn nhân lực, an sinh xã hội và phát triển bền vững; cụ thể là:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế nhằm tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho quản lý phát triển xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số. Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định, bởi chuyển đổi số không chỉ là vấn đề công nghệ, mà còn là quá trình tái cấu trúc phương thức quản trị xã hội. Trong điều kiện dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển mới, việc xây dựng khung pháp lý về quản trị dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng là yêu cầu cấp thiết. Hiện nay, hệ thống pháp luật liên quan đến dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế nền tảng và bảo vệ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ số. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế quản trị dữ liệu quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông và bảo đảm an toàn thông tin; đồng thời, hoàn thiện các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư số và trách nhiệm của các nền tảng công nghệ. Trong quá trình đó, cần bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến chuyển đổi số, dữ liệu số, an sinh xã hội số, quyền tiếp cận thông tin và quyền tiếp cận dịch vụ công của người dân; đồng thời, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong quản lý phát triển xã hội.

Thứ hai, cần lồng ghép mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững trong toàn bộ chiến lược, chương trình và chính sách chuyển đổi số. Mọi chính sách phát triển kinh tế số, chính phủ số và xã hội số phải lấy con người làm trung tâm, hướng tới thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng cho mọi nhóm xã hội. Điều này phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng về “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong tiến trình phát triển đất nước. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý xã hội, chuyển mạnh từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và sự tham gia của người dân. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế để người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình hoạch định, giám sát và phản biện chính sách thông qua các nền tảng số; phát triển chính phủ số, chính quyền số và dịch vụ công trực tuyến theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận và lấy người dân làm trung tâm phục vụ.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển hạ tầng số bao trùm. Trong thời đại số, hạ tầng số có vai trò tương tự như hạ tầng giao thông trong nền kinh tế truyền thống. Vì vậy, cần đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và nền tảng số quốc gia theo hướng hiện đại, đồng bộ và an toàn. Đặc biệt, cần ưu tiên phổ cập internet băng rộng và thiết bị số tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới và hải đảo nhằm thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phổ cập internet giá rẻ, phát triển các điểm truy cập số cộng đồng và hỗ trợ thiết bị số cho người dân có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, cần thúc đẩy doanh nghiệp công nghệ tham gia phát triển hạ tầng số theo cơ chế đối tác công - tư nhằm huy động nguồn lực xã hội cho chuyển đổi số quốc gia. Đặc biệt, cần chú trọng xây dựng “hạ tầng xã hội số” bên cạnh hạ tầng kỹ thuật số, trong đó bao gồm các nền tảng kết nối cộng đồng, hỗ trợ tương tác xã hội và nâng cao khả năng tham gia của người dân vào đời sống xã hội trong môi trường số.

Thứ tư, nâng cao năng lực số của người dân và đội ngũ cán bộ quản lý. Thực tiễn cho thấy, khoảng cách số hiện nay không chỉ nằm ở hạ tầng công nghệ, mà còn ở trình độ kỹ năng số và khả năng thích ứng với môi trường số. Trong nền kinh tế số, tri thức và kỹ năng số trở thành yếu tố cốt lõi quyết định khả năng tham gia vào thị trường lao động và đời sống xã hội. Vì vậy, cần triển khai mạnh mẽ các chương trình đào tạo kỹ năng số cơ bản cho người dân, đặc biệt là người lao động ở khu vực phi chính thức, lao động nông thôn, người cao tuổi, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số.

Hệ thống giáo dục và đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ theo hướng phát triển nguồn nhân lực số, gắn đào tạo với nhu cầu của nền kinh tế số và thị trường lao động mới. Đại hội XIV của Đảng xác định các đột phá chiến lược, trong đó nhấn mạnh: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao”(20). Do đó, cần tăng cường đào tạo các lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu và an ninh mạng; đồng thời, thúc đẩy học tập suốt đời và đào tạo lại lực lượng lao động bị tác động bởi tự động hóa.

Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, cần nâng cao tư duy quản trị số, năng lực sử dụng dữ liệu và khả năng điều hành trên môi trường số. Chuyển đổi số không thể thành công nếu đội ngũ cán bộ quản lý còn tư duy hành chính truyền thống, thiếu kỹ năng công nghệ và ngại đổi mới. Vì vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ theo hướng gắn với năng lực số và khả năng thích ứng với quản trị hiện đại.

Thứ năm, bảo đảm an sinh xã hội trong quá trình chuyển đổi số là yêu cầu quan trọng nhằm duy trì ổn định xã hội và bảo đảm tính bao trùm của phát triển. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa đang làm thay đổi cấu trúc lao động, khiến nhiều ngành nghề truyền thống có nguy cơ bị thay thế. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng hệ thống an sinh xã hội thích ứng với nền kinh tế số; cụ thể là: 1- Xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo lại và chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động bị ảnh hưởng bởi tự động hóa; đồng thời, mở rộng các chương trình bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ việc làm trên nền tảng số nhằm bảo vệ người lao động trong các mô hình việc làm mới. 2- Thúc đẩy phát triển các ngành nghề và việc làm mới trong kinh tế số, như thương mại điện tử, công nghiệp sáng tạo, công nghệ thông tin, logistics số và dịch vụ nền tảng. 3- Phát triển hệ thống an sinh xã hội số, ứng dụng công nghệ trong quản lý bảo hiểm, trợ cấp xã hội và hỗ trợ người yếu thế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng tiếp cận của người dân. 4- Gắn chuyển đổi số với phát triển bền vững. Chuyển đổi số cần trở thành động lực thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý hiệu quả tài nguyên, môi trường. 5- Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ xanh, phát triển mô hình sản xuất thông minh và sử dụng năng lượng tái tạo. Chuyển đổi số cũng cần gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm giảm lãng phí tài nguyên và xử lý hiệu quả rác thải, đặc biệt là rác thải điện tử đang gia tăng nhanh chóng, có tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái và đời sống, sức khỏe của người dân

Thứ sáu, cần gắn quản lý phát triển xã hội với mục tiêu phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài của quá trình chuyển đổi số. Trên thực tế, chuyển đổi số nếu không được định hướng đúng có thể làm gia tăng tiêu thụ năng lượng, phát sinh rác thải điện tử và gây áp lực mới lên tài nguyên môi trường. Vì vậy, cần thúc đẩy phát triển công nghệ xanh, trung tâm dữ liệu xanh, đô thị thông minh bền vững và các mô hình sản xuất - tiêu dùng thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ số trong quản lý tài nguyên, giám sát môi trường, cảnh báo thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao năng lực quản trị phát triển bền vững của quốc gia. Việc tích hợp mục tiêu phát triển bền vững vào các chiến lược chuyển đổi số quốc gia không chỉ giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển đổi số và quản lý phát triển xã hội, chủ động tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia phát triển nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.

PGS, TS Nguyễn Chí Hiếu - TS Trịnh Thị Hạnh
Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

--------------------------

* Bài viết là sản phẩm của Đề tài cấp bộ trọng điểm năm 2025 - 2026: “Nghiên cứu quan điểm tiếp cận: Toàn dân, toàn diện, toàn cầu, bao trùm và phát triển bền vững trong quản lý phát triển xã hội hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì

(1) Xem: Hoàng Chí Bảo: Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, tr. 36
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 420
(3) Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 738
(4) Xem: Ngô Thắng Lợi: “Quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam (Phần 1)”, Trang thông tin điện tử Hội đồng lý luận Trung ương, ngày 20-8-2020, https://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/quan-ly-phat-trien-xa-hoi-o-viet-nam-phan-1.html
(5) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 147 - 148
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 89 - 90
(7) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 51 - 52
(8) Theo Báo cáo Digital Vietnam 2026, Việt Nam ghi nhận 85.6 triệu người dùng Internet (tính đến cuối năm 2025), tương đương tỷ lệ thâm nhập đạt 84.2% dân số (“Báo cáo Digital Vietnam 2026 (DataReportal): Số liệu & Xu hướng Digital mới nhất”, ngày 25-11-2026, https://sinhvien.dinhtienminh.net/bao-cao-digital-vietnam-2026-datareportal-so-lieu-xu-huong-digital-moi-nhat/)
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 108
(10) Xem: Việt Anh: “Việt Nam trước ngã rẽ phát triển xanh bền vững và thách thức khí hậu”, Tạp chí Doanh nghiệp Việt Nam, ngày 25-1-2026, https://doanhnghiepvn.vn/doanh-nghiep/viet-nam-truoc-nga-re-phat-trien-xanh-ben-vung-va-thach-thuc-khi-hau/20260125084239177
(11) Xem: Cao Tân: “Thúc đẩy, phát triển kinh tế số”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 17-9-2025, https://nhandan.vn/thuc-day-phat-trien-kinh-te-so-post908582.html
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 82
(13) Cơ quan thống kê quốc gia: “Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021 - 2025”, Trang thông tin điện tử Cục Thống kê, ngày 5-1-2026, https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ty-trong-gia-tri-tang-them-cua-kinh-te-so-trong-gdp-grdp-giai-doan-2021-2025/
(14) Mạnh Tuyền: “Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trên tổng hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính cả nước tháng 01/2026 tăng 16,79%”, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, ngày 9-2-2026, https://tcnnld.vn/news/detail/71170/Ty-le%CC%A3-ho-so-tru%CC%A3c-tuyen-toan-trinh-tren-tong-ho-so-giai-quyet-thu-tuc-hanh-chinh-ca-nuoc-thang-012026-tang-1679.html
(15) Xem: Hà Phong: “Nguy cơ 70% việc làm dệt may, lắp ráp điện tử bị thay thế bởi robot và AI”, Báo Hà Nội mới, ngày 11-8-2025, https://hanoimoi.vn/nguy-co-70-viec-lam-det-may-lap-rap-dien-tu-bi-thay-the-boi-robot-va-ai-712246.html
(16) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 82
(17) Xem: Bích Liên: “Phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, thúc đẩy chuyển đổi số”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 21-3-2026, https://nhandan.vn/phat-trien-co-so-du-lieu-quoc-gia-thuc-day-chuyen-doi-so-post949901.html
(18) Xem: Giang Phạm: “Việt Nam tăng 15 bậc trong bảng xếp hạng Chính phủ điện tử toàn cầu năm 2024”, Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 18-9-2024, https://mst.gov.vn/viet-nam-tang-15-bac-trong-bang-xep-hang-chinh-phu-dien-tu-toan-cau-nam-2024-197240918233011444.htm
(19) Xem: Hương Dịu: “Thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 đạt giá trị gấp 28 lần GDP”, Tạp chí Kinh tế - Tài chính online, ngày 2-2-2026, https://tapchikinhtetaichinh.vn/thanh-toan-khong-dung-tien-mat-nam-2025-dat-gia-tri-gap-28-lan-gdp-144649.html
(20) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 388

Theo tapchicongsan.org.vn