08:10, 14/10/2005

Kỹ thuật mới trong điều trị bệnh sỏi niệu

Sỏi niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo) là loại bệnh khá phổ biến, chiếm khoảng 10% dân số. Tại Khánh Hòa, mỗi năm có khoảng 1.000 người mắc bệnh sỏi niệu...

Một ca nội soi niệu quản tại BVĐK tỉnh.

Sỏi niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo) là loại bệnh khá phổ biến, chiếm khoảng 10% dân số. Tại Khánh Hòa, mỗi năm có khoảng 1.000 người mắc bệnh sỏi niệu cần điều trị, 50% trong số đó có chỉ định mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Trước đây, khi Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh chưa triển khai các kỹ thuật mới trong điều trị sỏi niệu, bệnh nhân (BN) thường được áp dụng phương pháp mổ hở để lấy sỏi, nhưng gần đây, với những nỗ lực của BV trong việc ứng dụng kỹ thuật mới để điều trị sỏi niệu, hầu hết BN ở Khánh Hòa đã có thể điều trị bệnh sỏi niệu một cách nhẹ nhàng, không đau đớn, không phải đi vào tận TP. Hồ Chí Minh hoặc ra Quy Nhơn.

Bác sĩ (BS) Nguyễn Văn Xáng, Phó Giám đốc BVĐK tỉnh cho biết, ngoài điều trị nội khoa (chủ yếu là giảm đau, phòng chống nhiễm trùng) và mổ hở, hiện nay trên thế giới có 3 phương pháp mới để điều trị bệnh sỏi niệu, đó là tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi nội soi và tán sỏi qua da. Trong số 3 phương pháp trên, hiện BVĐK tỉnh đã triển khai được 2 phương pháp là tán sỏi ngoài cơ thể và tán sỏi nội soi. Đây là những kỹ thuật mới, hiện đại, đòi hỏi BS phải có trình độ tay nghề cao mới có thể thực hiện được.

BS Trần Đức Sơn (khoa Ngoại Tổng quát), người trực tiếp thực hiện các kỹ thuật tán sỏi niệu tại BVĐK tỉnh, cho biết: Tán sỏi ngoài cơ thể (thường áp dụng cho sỏi thận, sỏi niệu quản đoạn trên) là dùng sóng xung kích điện thủy lực thông qua môi trường nước tiếp xúc với cơ thể người bệnh. Tác dụng của sóng sẽ phá vỡ những viên sỏi có kích thước dưới 2 - 3cm, sau đó vụn sỏi sẽ theo đường tiểu ra ngoài. Tán sỏi nội soi (thường áp dụng đối với sỏi niệu quản đoạn dưới) là dùng máy soi niệu quản kết hợp hệ thống xung hơi tác động lên sỏi thông qua một thanh sắt nhỏ, vụn sỏi sau khi vỡ sẽ rơi vào “vợt” và được đưa ra ngoài ngay trong quá trình thực hiện. Kỹ thuật này thường áp dụng cho những sỏi có kích thước nhỏ dưới 0,5mm. Nếu như ưu điểm của tán sỏi ngoài cơ thể là ngay sau khi thực hiện xong BN có thể đứng dậy đi lại bình thường và ra về, thì đối với tán sỏi nội soi BN phải nằm lại BV từ 3 - 5 ngày để BS theo dõi. Tuy nhiên so với mổ hở, cả 2 phương pháp này đều “nhẹ nhàng” hơn đối với BN. Chính vì vậy, từ khi đi vào hoạt động (từ tháng 1-2005 đối với tán sỏi ngoài cơ thể và từ tháng 9-2005 đối với tán sỏi nội soi) đã có rất nhiều BN lựa chọn phương pháp này để điều trị sỏi niệu.

Nói về bệnh sỏi niệu, BS Trần Đức Sơn cho biết, sỏi nằm trong hệ niệu như một “vật lạ”, do đó nó có thể gây các biến chứng như nhiễm trùng niệu, chảy máu, tắc nghẽn… Triệu chứng thông thường của bệnh là đau lưng, đau tức ở hai hố thận kèm sốt nhẹ, khi đấm nhẹ vào hai hố thận người bệnh sẽ thấy đau nhói. Nếu sỏi di chuyển trong thận có thể làm xây xát niêm mạc gây chảy máu, người bệnh sẽ thấy tiểu ra máu loãng hoặc hình sợi, xét nghiệm nước tiểu có hồng cầu. Nếu sỏi di chuyển đến cuối bể thận (chỗ nối vào niệu quản) sẽ làm tắc nước tiểu và gây ra những cơn đau dữ dội gọi là cơn đau quặn thận. Theo BS Sơn, hiện nay chưa có thuốc nào làm tan sỏi hoặc phòng ngừa sỏi tái phát, vì vậy cách tốt nhất là phòng bệnh. “Để phòng bệnh sỏi niệu, mọi người nên uống nhiều nước, đảm bảo lượng nước tiểu từ 1 - 1,5 lít/ngày. Khi trời nắng nóng cần tăng lượng nước ngoài các bữa ăn. Đây là yếu tố quan trọng vì nếu nước tiểu bị cô đặc, khả năng kết sỏi sẽ cao hơn. Ngoài ra, không nên ăn quá nhiều thức ăn giàu can xi như cua, ốc, tôm… và thức ăn mặn, nhiều muối, nhiều đạm động vật”, BS Sơn khuyên.

HẢI YẾN