Phòng tránh đái tháo đường thai kỳ

Chủ Nhật, 25/08/2019, 20:17 [GMT+7]

Phòng tránh đái tháo đường thai kỳ

Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang có tốc độ tăng nhanh trên toàn cầu. Đến năm 2020 sẽ có 438 triệu người mắc bệnh, trong đó 50% là người châu Á. Theo đó, tỷ lệ ĐTĐ ở phụ nữ mang thai cũng tăng lên. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ tăng từ 3,9% năm 2004 đến 20,3% năm 2012 và 20,9% năm 2017.

 

Cán bộ y tế tư vấn cho bà mẹ mang thai.

Cán bộ y tế tư vấn cho bà mẹ mang thai.


ĐTĐ là nhóm những rối loạn chuyển hóa không đồng nhất gồm tăng glucose máu và rối loạn dung nạp glucose do thiếu Insulin, giảm tác dụng của Insulin hoặc cả hai. ĐTĐ trong thai kỳ là sự tăng glucose máu được phát hiện lần đầu trong khi mang thai.


Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thủy Tiên - Phó Giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, những thai phụ có yếu tố nguy cơ dễ mắc ĐTĐ thai kỳ là người béo phì; trước đó đã từng sinh con nặng trên 4kg, mẹ mang thai ở tuổi trên 35, mẹ có tiền sử bất thường về dung nạp glucose. Trong trường hợp có yếu tố nguy cơ cao, đa số phụ nữ có tiền sử rối loạn dung nạp glucose khi có thai đều bị ĐTĐ thai kỳ. Ngoài ra, có các yếu tố nguy cơ khác như: mẹ có thai chết lưu không rõ nguyên nhân, con bị dị tật bẩm sinh, tiền sản giật, sinh non; mẹ có hội chứng buồng trứng đa nang.


Thai phụ khi mắc ĐTĐ thai kỳ sẽ có nguy cơ xảy ra các tai biến trong suốt quá trình mang thai cao hơn các thai phụ bình thường. Tai biến thường gặp là tăng huyết áp, gây biến chứng cho mẹ và thai nhi như: tiền sản giật, sản giật; tai biến mạch máu não, suy gan, suy thận, thai chậm phát triển trong tử cung, sinh non và tăng tỷ lệ chết chu sinh. Các tai biến khác là đa ối; sẩy thai, nhiễm khuẩn đường tiểu; về lâu dài phụ nữ có tiền sử ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao diễn tiến thành ĐTĐ týp 2. Có khoảng 17% đến 63% thai phụ ĐTĐ thai kỳ sẽ bị ĐTĐ týp 2 trong thời gian 5 năm đến 16 năm sau sinh.


Bác sĩ Tiên khuyến cáo các thai phụ lớn tuổi (từ 35 tuổi trở lên), nhiều con, béo phì, tăng cân quá mức trong thai kỳ, hội chứng buồng trứng đa nang; trong gia đình có người thân ruột thịt bị mắc ĐTĐ; tiền sử sản khoa có thai chết lưu, sinh con to, trong thai kỳ có tăng huyết áp, đa thai đều nên tầm soát ĐTĐ thai kỳ. Thời điểm tầm soát từ tuần thứ 24 - 28 của tuổi thai, đây là thời điểm tốt nhất để phát hiện bất thường chuyển hóa carbohydrate trong thai kỳ. Đối với nhóm có nguy cơ cao nên xét nghiệm tầm soát sớm. Khi thai phụ đến khám lần đầu tiên vào 3 tháng đầu thai kỳ cần được xét nghiệm glucose máu lúc đói hoặc glucose máu bất kỳ. Khi thai kỳ bước vào tuần 24 - 28, 3 ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp (uống glucose 75gam - 2 giờ), thai phụ không ăn chế độ ăn có quá nhiều gluxit, nhịn đói 8 - 12 giờ trước khi làm nghiệm pháp.


Để phòng ĐTĐ thai kỳ, phụ nữ có thai, đặc biệt các thai phụ có nguy cơ cao cần có chế độ ăn hợp lý và hoạt động thể chất phù hợp. Về kiểm soát mức tăng cân trong thai kỳ, những thai phụ có chỉ số khối cơ thể bình thường (18,5 - 24,9kg/m2) tăng 11,5 - 16kg; thai phụ thừa cân (chỉ số khối cơ thể 25 - 29,9kg/m2) tăng 7 - 11,5kg; đối với thai phụ béo phì (chỉ số khối cơ thể ≥ 30kg/m2) chỉ khuyến cáo tăng 5 - 9kg. Trước khi mang thai nếu bị thừa cân, béo phì cần thực hiện các biện pháp giảm cân. Ngoài ra, thai phụ cần giảm ăn mặn, phòng tránh bệnh tăng huyết áp; nhiễm độc thai nghén, nên sử dụng dưới 5gam muối/ngày và nên sử dụng muối i-ốt; không dùng các đồ uống kích thích như: rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc; giảm ăn các gia vị như: ớt, tiêu, tỏi. Các thai phụ cần chú ý nên tiếp tục duy trì thói quen ăn uống lành mạnh sau khi sinh. Về vận động tập thể dục, cần chọn môn phù hợp như: đi bộ, tập tay lúc ngồi với thời gian 30 phút/ngày. Đối với chế độ ăn, những thai phụ có nguy cơ cao nên được cán bộ y tế tư vấn dinh dưỡng; chọn lựa thực phẩm, loại thức ăn phù hợp để tránh dư thừa hoặc thiếu năng lượng cung cấp trong quá trình mang thai. Các bữa ăn nên chia nhỏ gồm 3 bữa chính và 2 - 3 bữa phụ, mục đích điều hòa glucose máu. Những thai phụ ĐTĐ thai kỳ cần có sự theo dõi chặt chẽ của các bác sĩ nội tiết - ĐTĐ và bác sĩ sản khoa.  


Nguyễn Thị Quế Lâm
 (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Khánh Hòa)
 

.

các thông tin tiện ích