Một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh là nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn, chống hình thức, giáo điều, gắn bó với nhân dân. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, vận dụng chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn càng có ý nghĩa định hướng, gợi mở giải pháp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
![]() |
| Tác phẩm "Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc"- Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967_Ảnh tư liệu |
Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn
Theo Từ điển tiếng Việt, tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý(1). Thực tế là “những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt có quan hệ với đời sống con người”(2). Tư duy thực tế là khả năng nhìn nhận, phân tích, đánh giá sự vật, hiện tượng một cách khách quan, dựa vào thực tế đang hiện hữu và diễn ra, không viển vông, chủ quan duy ý chí để đưa ra quyết định và hành động đúng đắn, hiệu quả. Đây cũng là yêu cầu tất yếu của tư duy biện chứng duy vật, chống cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều, đòi hỏi gắn kết chặt chẽ lý luận với thực tiễn. Trong quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn Việt Nam để đề ra quan điểm, đường lối cách mạng, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, đã nâng tư duy thực tế lên tầm tư duy cách mạng. Người chỉ rõ: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”(3).
Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn được thể hiện trên nhiều góc độ, khía cạnh trong tư tưởng và hành động cách mạng. Trước hết, tư duy cách mạng Hồ Chí Minh luôn gắn với thực tiễn đất nước, đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam, trên nền của văn hóa dân tộc để vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Khi tiếp cận và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(4), cho nên “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(5). Một mặt, Người khẳng định “chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó”, tức là phương Đông; mặt khác, “cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(6). Cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước phương Đông diễn ra không giống như ở phương Tây, không thể chỉ khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực của phát triển xã hội mà “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(7). Từ tư duy đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ đảng viên phải luôn xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn cách mạng để đề ra chủ trương, đường lối cho đúng và cho trúng.
Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn thể hiện ở việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh Việt Nam, gắn với bối cảnh lịch sử cụ thể, học tập Cách mạng Tháng Mười Nga, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thành lập chính đảng của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đảng của cả dân tộc, đại biểu lợi ích cho cả dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thì chưa đủ. Chúng ta cần có biện pháp cụ thể”(8) hay phê bình tình trạng xa rời thực tiễn, chỉ ham bệnh báo cáo “nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”(9).
Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn được thể hiện ở hoàn cảnh và sự kiện lịch sử cụ thể. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm mọi cách để tránh cuộc chiến tranh không có lợi cho chính quyền non trẻ, cùng lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù thông qua Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946. Người “đã sử dụng tối đa sự mềm dẻo xung quanh tấm thảm xanh để thăm dò những khả năng cho một giải pháp hòa bình có thể thực hiện được bằng thỏa hiệp”(10). Thế nhưng, trước dã tâm trở lại xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp tái chiếm Nam Kỳ, đánh chiếm Hải Phòng, Hà Nội..., Người cương quyết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(11). Điều này càng cho thấy tư duy Hồ Chí Minh luôn bám sát thực tiễn trong nước và thế giới, nắm chắc và thấu hiểu dã tâm xâm lược của thực dân Pháp.
Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn còn được thể hiện ở việc luôn tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để làm giàu tri thức của mình, bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(12). Học tập lý luận, thì phải biết dùng lý luận đã học để phân tích những thắng lợi và thất bại trong công tác, kết quả và hạn chế trong tư tưởng, tìm ra nguyên nhân thành công và thất bại. Bởi theo Người “Làm như thế là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”(13) và “cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”(14). Có thể thấy, tư duy Hồ Chí Minh luôn gắn với thực tiễn từ việc tổng kết thực tiễn cách mạng để kế thừa và phát triển quan điểm, kinh nghiệm quý báu, phù hợp với thực tiễn cách mạng luôn biến đổi không ngừng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một số quan điểm về rèn luyện tư duy thực tế của cán bộ, đảng viên. Thứ nhất, rèn luyện tư duy thực tế bắt nguồn từ nắm chắc, hiểu đúng thực tế. Vận dụng quan điểm của Ph. Ăngghen: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”(15), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mọi chủ trương, đường lối phải xuất phát từ thực tiễn và bám sát thực tiễn. Muốn vậy, cán bộ, đảng viên phải “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”(16). Thứ hai, rèn luyện tư duy thực tế qua hoạt động phong trào cách mạng. Theo Người, “Phải lấy thực tế hành động tranh đấu hàng ngày để giáo dục, làm cho quần chúng thấy lực lượng của họ, phát huy sáng kiến, tự họ giải quyết vấn đề, tự họ nâng cao địa vị kinh tế, chính trị, văn hóa của họ. Muốn thực hiện như thế, không phải mệnh lệnh bắt quần chúng phải theo, mà phải làm cho họ tự giác tự động”(17). Muốn xây dựng phong trào cách mạng ngày càng phát triển, thì “phải đi sát quần chúng, bàn bạc với quần chúng, áp dụng những hình thức, phương pháp thích hợp với sinh hoạt của quần chúng, phải dựa vào quần chúng để đẩy phong trào lên”(18). Thứ ba, rèn luyện tư duy thực tế gắn liền với xây dựng đạo đức, tác phong của người làm cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, rèn luyện tư duy thực tế không chỉ là yêu cầu về tri thức, mà còn là phẩm chất đạo đức cách mạng. Người chỉ dẫn tác phong làm việc của cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”(19). Đây là phong cách “nói đi đôi với làm”, coi trọng hành động thực tiễn, thể hiện trách nhiệm và uy tín của cán bộ trước nhân dân. Một cán bộ xa dân, thiếu gương mẫu, nói nhiều làm ít, sẽ không thể có tư duy thực tế, càng không thể lãnh đạo hiệu quả và không thể là đạo đức cách mạng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngược lại, “phải lấy việc làm thực tế mà hướng dẫn nhân dân ta xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(20). Thứ tư, phê phán bệnh giáo điều, chống quan liêu và chủ quan duy ý chí. Người phê phán tư duy “thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(21).
Gợi mở cho xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn trong kỷ nguyên mới
Trong giai đoạn mới, đất nước ta đứng trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, đổi mới sáng tạo mạnh mẽ, chuyển đổi số rộng khắp, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Mặt khác, các thách thức mới, như biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, áp lực cạnh tranh quốc tế, thông tin, truyền thông đa chiều đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực của đội ngũ cán bộ không chỉ hiểu lý luận, mà phải biết vận dụng lý luận vào thực tiễn đa dạng, phong phú và ngày càng phức tạp.
Đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới cần tư duy trên nền tảng gắn lý luận với thực tiễn, đứng trên mảnh đất cụ thể của Việt Nam, gần nhân dân, sát nhân dân, phục vụ nhân dân, có năng lực thích ứng, đổi mới. Kiên định lý tưởng, nhưng không cứng nhắc, luôn linh hoạt trong vận dụng. Cán bộ không được rập khuôn sáng kiến từ nơi này áp đặt nơi khác, mà phải vận dụng linh hoạt, xét tới điều kiện đặc thù của địa phương, lĩnh vực; có năng lực phân tích, dự báo, xử lý tình huống trong môi trường biến động; phải nắm chắc thực tế, bắt mạch đời sống chính trị - xã hội, dự báo xu hướng, đề xuất biện pháp phù hợp, không bị động trông chờ. Gắn bó sâu sắc với nhân dân - gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân, “chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy phục vụ; chuyển từ “làm hết trách nhiệm” sang làm “đến nơi đến chốn””(22). Có như vậy, mới đáp ứng được vận hành bộ máy chính quyền hai cấp thật sự tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Tư duy đổi mới sáng tạo, thích ứng nhanh với sự thay đổi nhanh của môi trường công nghệ, thị trường, đời sống sẽ giúp cán bộ không bị tụt hậu. Cán bộ phải chủ động học hỏi, cập nhật, thử nghiệm cách làm mới, chịu rủi ro có kiểm soát. Như vậy, trong bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ không thể chỉ dừng ở “biết lý luận và hiểu thực tế”, mà phải là người có đủ tố chất: tư duy thực tế, bản lĩnh quyết đoán, dấn thân và hành động sâu sát thực tiễn.
Từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, thời gian tới cần tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ sâu về lý luận, sát thực tiễn. Một số vấn đề sau cần được cân nhắc:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thực tiễn. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”, lý luận phải gắn với thực tiễn, học tập phải gắn với thực hành trở thành nguyên tắc phương pháp luận xuyên suốt trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, “kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn”(23) thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Việc đưa chỉ dẫn của Người vào thực tế hành động có nghĩa phải biến việc “giảng dạy” thành “làm”, biến chương trình đào tạo thành nhiệm vụ có sản phẩm, biến cuộc kiểm tra thành đánh giá dựa trên kết quả, biến mọi quyết định bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật thành công cụ trực tiếp rèn luyện, kiểm nghiệm cán bộ trong thực tiễn cuộc sống của nhân dân. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng “học để làm” phải là bước khởi đầu bắt buộc. Việc này đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, chuẩn đầu ra và quan hệ giữa cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng cán bộ. Về nội dung, cần chuyển trọng tâm từ việc truyền thụ kiến thức lý luận một chiều sang việc rèn luyện năng lực thực hành: kỹ năng điều tra, phân tích dữ liệu thực địa, xây dựng đề án, tổ chức thực hiện dự án mẫu ở địa bàn, viết báo cáo thực nghiệm và tổng kết rút kinh nghiệm. Điều này không chỉ đào tạo kỹ năng, mà còn tạo thói quen tư duy: xuất phát từ vấn đề, khảo sát thực tế, dấn thân và hành động trong thực tế công việc. Điển hình, tấm gương trong thực tế cần được công nhận, khen thưởng và phổ biến rộng rãi, lan tỏa mạnh mẽ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng không thể thực hiện hiệu quả nếu không có cơ chế tài chính, chế độ khuyến khích và tiêu chí đánh giá tương ứng. Chủ trương, chính sách về bảo đảm ngân sách thí điểm cho các đề án thực nghiệm trong đào tạo cần được định hình, đồng thời thiết lập cơ chế khen thưởng cho sáng kiến có bằng chứng rõ ràng về hiệu quả trong thực tế. Hồ sơ học tập và sản phẩm thực tế phải là một phần không thể tách rời trong lý lịch nghề nghiệp của cán bộ; việc đánh giá cán bộ không chỉ dựa trên tiêu chí “đạt chứng chỉ”, mà còn gắn với tiêu chí “có sản phẩm áp dụng được”, coi đây là căn cứ khi xem xét đề bạt, quy hoạch, bổ nhiệm.
Thứ hai, thử thách và rèn luyện cán bộ thông qua thực tiễn công tác với nhiều môi trường, vị trí khác nhau. Luân chuyển và bố trí cán bộ về cơ sở là công cụ then chốt thứ hai để rèn luyện tư duy thực tế của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Luân chuyển phải gắn với một nhiệm vụ cụ thể, có quyền hạn, nguồn lực và sản phẩm cụ thể, rõ ràng. Cần quy định thời gian tối thiểu của mỗi lần luân chuyển để cán bộ có thời gian thấu hiểu bối cảnh, xây dựng và triển khai đề án giải quyết vấn đề. Đồng thời, phải có chế độ bảo lưu vị trí cũ hoặc lộ trình nghề nghiệp rõ ràng để cán bộ yên tâm dấn thân chứ không sợ rủi ro sẽ mất cơ hội thăng tiến. Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022, của Bộ Chính trị, “Về luân chuyển cán bộ” và các hướng dẫn thực hiện đó đặt nền móng pháp lý cho việc này, song ở đơn vị, địa phương cần cụ thể hóa thành tiêu chí đánh giá trung thực sau luân chuyển, bao gồm hiệu quả giải quyết nhiệm vụ, phản hồi của cán bộ, đảng viên và nhân dân, mức độ huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tại chỗ, năng lực tổ chức mạng lưới đối tác. Hội đồng đánh giá sau luân chuyển cần bao gồm đại diện cấp ủy, cơ quan tổ chức, chuyên gia độc lập và đại diện tổ chức chính trị - xã hội. Kết luận đánh giá phải công khai và trở thành căn cứ để quyết định việc tiếp tục quy hoạch, bổ nhiệm hay tiếp tục đào tạo.
Hệ thống chính sách bảo đảm người luân chuyển hoàn thành nhiệm vụ được giao là nhân tố quyết định việc luân chuyển có thực chất hay chỉ mang tính hình thức. Để cán bộ “lăn lộn với phong trào” một cách toàn tâm, toàn ý, cần có chính sách phù hợp, như bố trí nhà ở công vụ, chế độ phụ cấp công tác, cơ chế chăm lo cho gia đình cán bộ khi chuyển công tác, cơ chế bảo lưu quyền lợi nghề nghiệp. Biện pháp này phải được quy định công khai, đồng thời có cơ chế giám sát để tránh lợi dụng chính sách, tạo ra “đặc quyền” hay cơ chế bao che. Đồng thời, cần có cán bộ tại chỗ giàu kinh nghiệm, có uy tín và có kỹ năng thực tiễn để hỗ trợ cán bộ luân chuyển trong thời gian đầu.
![]() |
| Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi với các học viên là cán bộ quy hoạch Ủy viên Trung ương Đảng khoá XIV về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc_Ảnh: TTXVN |
Thứ ba, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ lãnh đạo là giải pháp vừa mang tính văn hóa chính trị, vừa mang tính tổ chức thực tiễn. Nêu gương phải được thể chế hóa bằng tiêu chí đo lường và đánh giá: yêu cầu người đứng đầu các cấp thực hiện xuống cơ sở, dự đối thoại, trực tiếp chịu trách nhiệm chỉ đạo ít nhất một đề án tháo gỡ tình huống “có vấn đề” hay “điểm nóng” trong thực tế, công khai lộ trình giải pháp và báo cáo kết quả trước kỳ họp đơn vị. Có cơ chế thưởng - phạt công minh, hiệu quả. Nếu người đứng đầu thiếu trách nhiệm, để xảy ra tiêu cực, tư lợi hoặc bê bối làm mất niềm tin thì cần xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Phương pháp “nêu gương bằng hành động” phải được lồng ghép trong chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt, làm tiêu chí kiểm tra, khảo sát thường xuyên và trở thành văn hóa đánh giá cán bộ. Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ “chính quyền gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hoạt động của chính quyền. Chừng nào người dân còn kêu ca về chính quyền chỗ này chỗ kia, đó chính là còn hoạt động chưa hiệu quả. Đấy là thước đo cao nhất”(24).
Thứ tư, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ sâu, sát thực tiễn. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ dựa vào thực tiễn, lấy kết quả và hiệu quả công việc trong thực tiễn của cán bộ, đảng viên để đánh giá. Thanh tra, kiểm tra và kiểm toán phải có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp giữa kiểm tra chuyên môn và khảo sát thực địa, các đoàn kiểm tra cần có chuyên gia chuyên ngành, có đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc đại diện tổ chức chính trị - xã hội để thu thập thông tin phản ánh khách quan, nhiều chiều. Một trong những tiêu chí của cán bộ khi kiểm tra, đánh giá cán bộ là “phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân, bám sát thực tiễn, chịu khó học hỏi, nói đi đôi với làm”(25).
Kết quả kiểm tra phải được xử lý kịp thời, công khai, phải đi kèm với lộ trình khắc phục cụ thể hạn chế kéo dài hoặc sai phạm nghiêm trọng phải chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng và quy định của pháp luật. Tiếp tục thực hiện hiệu quả hơn Kết luận số 21-KL/ TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, nhấn mạnh cần kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm cán bộ suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống; việc kiểm tra, xử lý phải minh bạch để củng cố niềm tin chính trị và tạo môi trường rèn luyện cán bộ trong sạch, vững mạnh.
TS HỒNG THẾ VINH
Học viện Chính trị khu vực III
----------------------
(1), (2) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr. 974, 974
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t. 5, tr. 274
(4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 510, 510, 509, 511
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 303
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 299
(10) Trần Văn Phòng: Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 18
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 283
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 96
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 511
(15) C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t. 20, tr. 781
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 326
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 48
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 367
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 233 - 234
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 624
(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 312
(22) “Tổng Bí thư Tô Lâm: Phải chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy phục vụ”, Báo điện tử Vietnam Plus, ngày 1-7-2025, https://www.vietnamplus.vn/tong- bi-thu-to-lam-phai-chuyen-tu-tu-duy-hanh-chinh-sang- tu-duy-phuc-vu-post1047535.vnp
(23) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. 1, tr. 8
(24) Trường Phong: “Tổng Bí thư Tô Lâm: Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo cao nhất”, Báo điện tử Tiền phong, ngày 23-9-2025, https://tienphong. vn/tong-bi-thu-lay-su-hai-long-cua-nguoi-dan-lam- thuoc-do-cao-nhat-post1780685.tpo
(25) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 86
Theo tapchicongsan.org.vn







Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin