02:09, 06/09/2009

Một gia đình giàu truyền thống cách mạng

Giữa cái nắng oi bức của một ngày cuối tháng 8, chúng tôi tìm đến nhà ông Cao Na và bà Cao Thị Lý, dân tộc Raglai, ở xóm 2, thôn Cô Lắc, xã Sơn Bình, huyện Khánh Sơn...

Những người con của ông Cao Na và bà Cao Thị Lý trò chuyện với khách.

Giữa cái nắng oi bức của một ngày cuối tháng 8, chúng tôi tìm đến nhà ông Cao Na và bà Cao Thị Lý, dân tộc Raglai, ở xóm 2, thôn Cô Lắc, xã Sơn Bình, huyện Khánh Sơn. Đi qua con đường ngoằn nghoèo, bản làng hiện ra với những mái nhà nằm trên sườn núi. Anh Hùng, một người dân ở Cô Lắc chỉ tay về phía con đường dốc cao: “Nhà ông Cao Na và bà Cao Thị Lý nằm ở hướng này. Vợ chồng ông Cao Na nổi tiếng khắp vùng, nhà có 10 người thì đến 8 người làm cách mạng. Nhưng vợ chồng ông mất lâu rồi, chỉ còn lại các con đang sinh sống ở đây”.

Chúng tôi đến nhà bà Cao Thị Giáo, người con thứ 5 của vợ chồng ông Cao Na. Tiếp tôi trong căn nhà ván, bà Cao Thị Giáo tâm sự: “Bố mẹ tôi sinh được 8 người con, nhưng 2 đứa sau vừa mới sinh ra đã chết. Bố mẹ tôi hoạt động cách mạng từ thời chống Pháp. 6 anh em tôi lớn lên cũng lần lượt đi theo Đảng, theo Bác Hồ và bố mẹ tham gia cách mạng ”.

Đến bây giờ, các anh em còn sống vẫn không ai biết rõ bố mẹ mình sinh năm nào. Bà Giáo chỉ biết bố mình mất năm 1988, còn mẹ mất năm 1958. Ngày ông Cao Na và bà Cao Thị Lý còn sống, 2 ông bà đều hăng hái tham gia cách mạng và trở thành những “nhân vật huyền thoại” cho cả bản làng học tập và noi theo. Lúc ấy, ông Cao Na và bà Cao Thị Lý rất nghèo, chỉ ăn củ mài, rau rừng, nhưng trong suốt hơn 20 năm, ông bà vẫn dành từng hạt cơm, củ mì để nuôi cán bộ, che chở những người hoạt động cách mạng. Khi ấy, Cà Giàng (nay là xã Sơn Bình - Khánh Sơn) là một trong những căn cứ địa cách mạng bị địch bố ráp ác liệt. Thế nhưng, bằng trí thông minh, lòng dũng cảm, sự yêu thương đùm bọc của gia đình ông Cao Na, nhiều cán bộ hoạt động ở đây đã được bảo vệ an toàn.

Người con trai đầu của ông Cao Na là ông Cao Mạnh (mất năm 2006), có tới 9 năm tham gia chống Pháp, 18 năm tham gia chống Mỹ. Ông Cao Mạnh là người liên lạc, đưa công văn cho cán bộ ở căn cứ địa cách mạng huyện Khánh Sơn. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ, ông về Ninh Thuận sống với vợ và có 3 người con. Ông được tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Ông Cao Văn Thanh - người con thứ 2 cũng có 18 năm hoạt động trong quân đội. 18 năm ra chiến trường, ông không biết mình đã bao nhiêu lần thoát chết. Những lần bị địch bắt hành hạ, những chuyến vượt ngục, những trận ốm và sốt rét tưởng chừng đã làm cho ông không sống nổi. Sau bao nhiêu năm đi chiến đấu, ông bị mất liên lạc với gia đình. Ở nhà, mọi người tưởng ông đã chết nên tổ chức làm ma chay. Bất ngờ, năm 1978, ông trở về đoàn tụ với gia đình sau nhiều năm lưu lạc. Bây giờ, ông Thanh đã có vợ và 3 người con. Trong gia đình, có lẽ ông Thanh là người “sưu tầm” được nhiều nhất các bộ huân chương, huy chương, bằng khen, huy hiệu, giấy khen của Đảng và Nhà nước. Cũng như 2 người anh, người em trai thứ 3 là ông Cao Văn Phóng (sinh năm 1933), hiện sống ở thôn Cô Lắc, xã Sơn Bình, là một người có hơn 10 năm tham gia kháng chiến chống Mỹ. Trong chiến tranh, ông Phóng là người hoạt động bí mật, nuôi giấu cán bộ. Một thời gian sau, ông ra chiến trường tham gia chiến đấu. Ông Phóng sinh được 8 người con, nhưng 3 người mất khi còn nhỏ. Hiện nay, người con trai đầu của ông là Mấu Quốc Việt đang giữ chức Chủ tịch Mặt trận xã Sơn Bình. Với những cống hiến cho cách mạng, ông Phóng đã được tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, huy hiệu 40 năm tuổi Đảng. Ông Cao Đành (sinh năm 1937) là người em thứ 4 tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1948, ông Đành đi bộ đội, là Trung đội phó lực lượng 48 ở Gia Lai. Sau gần 10 năm chiến đấu ở Gia Lai, ông Đành trở về quê hương và trải qua rất nhiều chức vụ. Từ Xã đội trưởng, Trưởng công an xã đến Chủ tịch Hội Nông dân… Hiện nay, ông đã nghỉ hưu và hưởng chế độ thương binh. Người con gái duy nhất trong nhà làm cách mạng là bà Cao Thị Giáo (sinh năm 1952). Ngồi nói chuyện với chúng tôi, bà Giáo nhớ lại: “Thấy bố mẹ, anh em làm cách mạng hăng say, tôi cũng quyết tâm tham gia cách mạng. Những năm 1963 đến 1967, chiến tranh diễn ra ở Khánh Sơn vô cùng ác liệt. Tôi đi nấu ăn cho bộ đội, mở đường, làm công tác dân phòng, mang gạo, thuốc men và cả súng đạn cho bộ đội. Năm 1968, sợ địch phát hiện bộ đội du kích đang hoạt động ở làng, tôi đã phải trèo đèo, lội suối mấy ngày liền để đến tận nơi bộ đội du kích đang hoạt động để báo tin. Lần ấy, tôi đã cứu được đơn vị thoát khỏi vòng vây của giặc”. Mỗi lần nói chuyện về cách mạng, về Đảng và Bác Hồ là bà Giáo rất hào hứng: “Gia đình tôi nghe Đảng, nghe Bác Hồ chứ không nghe lời xúi giục của kẻ xấu”. Người cuối cùng trong gia đình có truyền thống cách mạng ấy là ông Cao Vân (sinh năm 1955). Năm 1975, cũng như bao thanh niên trai tráng khác trong làng, ông Vân tham gia cách mạng ở đội thanh niên xung phong. Hiện nay, ông không chỉ ra sức sản xuất, chăn nuôi, mở đường giao thông địa phương mà còn có thành tích khi động viên khuyến khích thanh niên quê mình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm. Trở về từ chiến trường, những anh em của bà Cao Thị Giáo có người lành lặn, có người mang thương tật. Hiện nay, nhiều người cháu trong đại gia đình này bị nhiễm chất độc dam cam do di chứng từ bố mẹ truyền lại, như các con của ông Cao Văn Thanh, bà Cao Thị Giáo.

Chia tay gia đình bà Cao Thị Giáo, tôi vẫn nhớ mãi lời nói của bà: “Gia đình tôi luôn nghe Đảng, nghe Bác Hồ. Tôi luôn dạy dỗ và khuyên con cháu phải nêu gương truyền thống của gia đình. Bởi gia đình mình là gia đình cách mạng”.

ĐINH TIẾN GIANG