10:02, 07/02/2007

“Đượm gió ngàn cao, thấm nguồn suối núi…”

Ở nước ta, xưa nay các nhà thơ thành danh và ngay cả những người mới cầm bút tập làm thơ hầu như ai cũng có ít nhất một số bài, một số tập viết về nhiều đề tài...

TS Hoàng Quang Thuận, tác giả tập thơ.

Ở nước ta, xưa nay các nhà thơ thành danh và ngay cả những người mới cầm bút tập làm thơ hầu như ai cũng có ít nhất một số bài, một số tập viết về nhiều đề tài như tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước… Nhưng làm thơ duy nhất về một di tích với số lượng 143 bài mà không hề trùng lặp thì chỉ có một người, đó là Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận, Viện trưởng Viện Công nghệ viễn thông - Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia. Đối với thơ, ông là người “ngoại đạo”. Thế mà bỗng dưng trong chuyến hành hương Yên Tử (Quảng Ninh), nhà khoa học tự nhiên đã tâm sự với những người thân thuộc: “Thơ cứ tự đến như không, cứ trào ra từ một mạch nước ngầm và tôi chỉ việc chép lại”. 3 đêm liền, trong cảm xúc khó tả, ông đã viết một mạch 63 bài thơ về di tích Yên Tử - nơi Đệ nhất Tổ, Đức vua Trần Nhân Tông sáng lập Thiền phái Trúc Lâm hơn 700 năm trước. 63 bài thơ này mang tên chung trong tập Thi vân Yên Tử, được Nhà Xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam ấn hành đầu năm 1998, in lần thứ 2 bằng 2 thứ tiếng Việt - Pháp và lần thứ 3 bằng 3 thứ tiếng Việt - Pháp - Anh, với số lượng 11.000 bản và phần lớn được dâng cúng cho danh sơn Yên Tử.

Một tập thơ viết về một di tích của một nhà khoa học tự nhiên đã có bao nhiêu sự lạ, cộng với số lượng bản in cao gấp hàng chục lần loạt thơ của các tác giả khác xuất bản những năm gần đây thì Thi vân Yên Tử lại thêm một sự lạ nữa. Có người còn cho đây là một kỳ tích. Nhà thơ Ngô Văn Phú, trong lời đề tựa tập thơ của Hoàng Quang Thuận, đã viết: “… Một nhà khoa học không phải là nhà thơ chuyên nghiệp mà khi đối cảnh sinh tình, hơi thở của thiền học đã thấm nhuần vào cảm hứng trinh nguyên trước một danh thắng nổi tiếng hàng mấy trăm năm…”. Còn nhà văn Nguyễn Trọng Tân thì lập luận: “Chỉ nhờ lòng thành và có tâm mà làm được thơ, mà trở thành nhà thơ sao? Nhưng với Hoàng Quang Thuận hiện thời chưa có cách giải thích nào khác”.

Thi vân Yên Tử ra đời không những gây ấn tượng mạnh trong văn giới mà còn được các chính khách trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong thư đề ngày 19-2-1998 gửi tác giả đã vui mừng: “Đọc một mạch mấy bài liền thấy hay và cảm thấy như mình cũng đang đi thăm, ngắm cảnh nơi núi, mây độc đáo này”. Năm 2001, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn lại cho ấn hành tiếp Ngọa vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận gồm 80 bài (tổng cộng 2 tập là 143 bài). Tổng thống Mỹ B.Clinton, Tổng thống Pháp Jacques Chirac, sau khi đọc tác phẩm của Hoàng Quang Thuận đã tỏ lòng ái mộ viết thư cảm ơn tác giả. Từ Hoàng cung Thụy Điển, ngài Ursula Wohlfahrt đã gửi đến tác giả bức thư có đoạn: “Thay mặt Quốc vương, tôi xin cảm ơn ông về tập thơ… Chúng tôi đánh giá cao sự cao siêu, sâu sắc về những vần thơ của ông”.

Tháng 11-2006, Nhà Xuất bản Giáo dục lại ấn hành 2.000 bản tập thơ Thi vân Yên Tử của Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận, có in kèm bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đọc những bài thơ hay, đượm gió ngàn cao, thấm nguồn suối núi, những bài thơ của một con người đầy tư tưởng nhân văn…”. Nhà xuất bản đã dành 300 cuốn và cử đoàn đại biểu đến đền thờ 14 vị vua Trần tại Nam Định, thắp hương dâng cúng để tỏ lòng tri ân công đức của các đấng quân vương nhân dịp sắp bước sang năm mới.

Trở lại với nội dung tập Thi vân Yên Tử. Có thể nói, đây là một tập thơ đã “vẽ” tương đối hoàn chỉnh toàn cảnh di tích lịch sử Yên Tử - một trong những danh lam nổi tiếng. 143 bài thơ là 143 cảnh vật, từ cây đa cổ thụ, sân chùa, ngọn tháp, đường núi, nền cũ am xưa đến tiếng mõ, tiếng sáo… ở Yên Tử đều như đắm chìm vào thiên nhiên huyền thoại của khu di tích lịch sử và danh thắng ở đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc Tổ quốc, một trung tâm tu hành của Phật giáo sầm uất do Pháp chủ Trần Nhân Tông sáng lập. Đặc biệt, tập thơ này mô tả nhiều cảnh vật, người đọc có dịp tìm hiểu thêm về sự tích Hoàng đế Trần Nhân Tông - một trong 14 vị vua Trần nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam từ khi người trao lại ngôi báu cho con trưởng là Trần Anh Tông để lên Yên Tử tu hành, làm Đại đầu đà, Đệ nhất Tổ Trúc Lâm Tòng phái.

Dưới ngòi bút của Hoàng Quang Thuận, Yên Tử được mô tả hết sức sinh động: Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng/Vươn mình thế núi hướng biển Đông/Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất/Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long (Yên Tử). Trong bài Yên Tử trường xuân, tác giả viết: Từ bỏ ngôi vua để tu hành/Từ cái nhất thời, cái hữu danh/Vĩnh hằng vô hạn vua tìm đến/Yên Tử trường xuân hóa đất lành. Hơn 7 thế kỷ đã trôi qua, vật đổi sao dời nhưng Yên Tử vẫn còn đây, di tích, sự tích về các vua Trần vẫn còn đây: Đây chính nơi xưa suối vua Trần/Tìm nơi đất Phật để dừng chân/Bảy trăm năm đã bao dời đổi/Suối đẹp chùa xưa vẫn sắc xuân (Suối Tắm).

Tương truyền, đây là con suối vua Trần Nhân Tông tắm khi vào Yên Tử tu hành. Khi vua Trần và Bảo Sái tắm xong, lên đường vào Yên Tử, qua hẻm núi có 3 tên cướp nhảy ra đòi tiền mãi lộ. Nhà vua cho chúng tiền và cả phần cơm trưa rồi nhẹ nhàng thuyết giáo, thức tỉnh nhân tâm của chúng. Cả 3 tên cướp sau này trở thành tín đồ ngoan đạo của phái Trúc Lâm.

Bút tích của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một trong những ngôi chùa ở Yên Tử là chùa “Cầm Thực” có liên quan đến sự kiện của “Suối Tắm”. Số là sau khi vua Trần tắm suối xong, lên đường vào Yên Tử, đến giờ Ngọ, vua tôi mở cơm ra ăn thì sực nhớ phần cơm của 2 người đã cho 3 tên cướp sau khi đã cảm hóa được chúng. Vua Trần và Bảo Sái đành uống nước trừ cơm. Vì vậy, sau này nơi đây dựng lên chùa Cầm Thực.

Lại có chuyện, khi được tin vua Trần Nhân Tông vào Yên Tử tu hành, các cung tần mỹ nữ của triều đình băng ngàn vượt suối đến đây, xin vua trở lại kinh thành Thăng Long. Không lay chuyển được ý chí của đấng quân vương, các cung tần, mỹ nữ đã lao mình xuống suối Hổ Khê tự vẫn, nhưng 5 người trong số đó được các trai làng cứu sống. Để đền ơn cứu mạng, 5 cung nữ lấy 5 trai làng làm chồng, lập thành làng Năm Mẫu, tồn tại đến ngày nay. Vùng Năm Mẫu thời đó là biển nước, vua cho lập đàn tràng, cầu Phật tổ Như Lai cho nước rút hết. Từ đó các cung nữ ở lại, sống bằng nghề làm ruộng.

Lòng vua trĩu nặng nỗi lo buồn

Cung nữ theo vua về sơn môn

Mênh mang u tịch rừng hoang vắng

Thung sâu vượn hú chẳng xóm thôn

                              (Làng Năm Mẫu)

Mỗi bước trên con đường hành hương về Yên Tử, Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận dường như đã nhập Thiền trước “Sơn lâm kỳ thú cảnh thần tiên. Vượt chín tầng mây tới cõi thiền” mà bỗng chốc thăng hoa trở thành thi sĩ.

Đứng trước Am cỏ Ngọa Vân của vua Trần Nhân Tông, nơi vua đã lập Am Dược Tiên chế thuốc hồng ngọc sương bằng cỏ cây Yên Tử, chữa bệnh cho các nhà sư và dân chúng quanh vùng, Hoàng Quang Thuận đã viết: Yên Sơn vua lập Am Dược Tiên/Hồng ngọc cây rừng chế thành viên/Yên Tử non cao thành y viện/Cứu khổ chúng sinh khắp mọi miền. (Ngọa Vân lưng núi).

Am Ngọa Vân, nơi vua Trần tham thiền nhập định hay con đường xưa vua dạo bước cách đây hơn 7 thế kỷ đều là những cảnh thiên nhiên kỳ thú: Nước chảy xuôi dòng cùng năm tháng/Am nhỏ chùa xưa chẳng đổi thay/Dấu tích vua Trần về Yên Tử/Một dòng suối tắm giữa trời mây (Dấu tích vua Trần). Một dải lụa vàng vắt ngang núi/Đường vào Yên Tử đá nhấp nhô/Dấu xưa hài cỏ vua Trần đến/đường Thiền giác đạo đến bây giờ (Đường núi).

Đức Trần Nhân Tông sinh ngày 11-11 năm Mậu Ngọ (tức ngày 7-12-1258), lên ngôi vua năm 1297, quy tiên ngày mùng 3 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 16-11-1308) tại Am Ngọ Vân, núi Yên Tử, hưởng thọ 50 tuổi. Không chỉ là một vị vua anh minh, một lòng vì dân, vì nước, không màng chức trọng quyền cao, Đức Trần Nhân Tông còn là một nhà thơ tài hoa, một nhà tu hành đắc đạo đã để lại cho muôn đời sau niềm ngưỡng vọng khôn cùng.

Cảnh vua Trần hiển Phật qua tương truyền được Hoàng Quang Thuận phác họa tài tình: Suốt mấy hôm liền mây trút mưa/Cây cối ngả nghiêng phục bên chùa/Tiễn biệt vua Trần về cõi Phật/Những dải mây buồn luống tiễn đưa… (Vua Trần hiển Phật). Nơi Đức Trần Nhân Tông hiển Phật sau này được xây lăng mộ mang tên lăng Quy Đức trên nền Am Ngọa Vân rất uy nghiêm: Lăng quây vuông vức bốn mặt thành/Ngói hài hai phía dáng thanh thanh/Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng/Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh… (Lăng Quy Đức).

Khó có thể điểm hết những vần thơ linh ứng, ám ảnh trong tập Thi vân Yên Tử và các dấu tích, sự tích về vua Trần Nhân Tông qua thơ của Tiến sĩ - thi sĩ Hoàng Quang Thuận. Xin mượn lời của nhà phê bình văn học Thái Doãn Hiểu để kết bài viết này: “Tôi đã đọc với tinh thần thẩm định nghệ thuật hàng ngàn tập thơ do các nhà thơ mọi miền gửi đến, rất ít tập thơ được đọc đến lần thứ hai, thế mà riêng Thi vân Yên Tử tôi đã đọc tới 5 lần. Cái mê lực hút người của nó… chính là cái tâm thành, tâm nguyện của Hoàng Quang Thuận”.

HOÀNG TRÚC LONG