
Cá ngựa không chỉ có dược tính cao mà còn có giá trị xuất khẩu lớn. Do nhu cầu tiêu thụ cá ngựa ngày càng lớn nên nguồn cá ngựa tự nhiên ngày càng giảm...
|
Tiến sĩ (TS) Trương Sĩ Kỳ - công tác tại Viện Hải dương học Nha Trang đã có nhiều công trình nghiên cứu về giống cá ngựa, trong đó có nhấn mạnh đến quy trình nuôi cá ngựa. Theo TS Kỳ, quy trình công nghệ này sẽ được chuyển giao cho người dân nhằm giúp họ có thể làm giàu từ cá ngựa, đồng thời bảo vệ được nguồn lợi cá ngựa ở Việt Nam.
Ở Khánh Hòa, số hộ dân làm quen với quy trình nuôi cá ngựa chưa nhiều, do người dân chưa nắm được kỹ thuật nuôi. Tuy nhiên, với những hộ đã thành công trong việc sản xuất cá ngựa giống thì nguồn lợi đem lại rất đáng kể. Trong công trình nghiên cứu của mình, TS Kỳ đã hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng công đoạn nuôi cá ngựa. Theo đó, để sản xuất giống cần chọn cá bố mẹ khỏe, linh hoạt, đuôi uốn cong, không nên mua cá đánh bắt bằng lưới giã cào vì cá không có chất lượng cao. Cá đực mang trứng thường được nuôi riêng trong các bể kính có dung tích 100 - 150 lít nước biển đã qua lọc sinh học, độ muối từ 30 - 34%, nhiệt độ 26 - 30oC, có sục khí. Sau thời gian không quá 11 ngày, cá sẽ đẻ con. Số lượng cá con dao động từ 200 - 1.500 con, tùy theo loài và đợt đẻ. Sau khi cá đẻ xong, cần tách nuôi riêng cá bố để tái phát dục. Ngoài chất lượng nước, người nuôi cần chú ý đến thức ăn dành cho loài cá này. Cá ngựa là loài chuyên hóa hẹp về mặt dinh dưỡng, do cấu tạo riêng về cơ quan tiêu hóa và cấu tạo mõm nên cá ngựa chỉ ăn sinh vật sống, di động, có kích thước phù hợp với kích thước của miệng. Bên cạnh đó, người nuôi cũng cần chú ý đến chế độ thay nước và vệ sinh bể nuôi, điều kiện chiếu sáng… Cá ngựa là loài có khả năng đề kháng với nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi vẫn có trường hợp cá bị nhiễm bệnh, bệnh thường gặp là do nguyên sinh động vật Zoothamnium gây ra. Bệnh này có thể khiến cá ngựa mất khả năng bơi lội và kiếm ăn, sau đó ít ngày sẽ chết. Để xử lý, cần phòng bệnh bằng cách bảo vệ nguồn nước và thức ăn, khi phát hiện cá bệnh cần tách riêng, không để lây lan.
Theo TS Kỳ, việc nghiên cứu quy trình sản xuất giống cá ngựa và nuôi đạt kích thước thương phẩm đã thành công ở quy mô nhỏ, mở ra triển vọng cho nghề nuôi hải sản ở nước ta. Có 2 xu hướng trong việc phát triển nghề nuôi cá ngựa: nuôi với kỹ thuật thấp và nuôi công nghệ. Nuôi với kỹ thuật thấp thường cho năng suất không cao nhưng không đòi hỏi đầu tư lớn về trang thiết bị, nên nhiều người có khả năng nuôi theo phương pháp này. Nuôi công nghiệp sẽ đem lại năng suất cao nhưng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, dễ gây ô nhiễm môi trường vì nuôi với mật độ cao. Cũng theo TS Kỳ, nếu người nuôi nắm được “đầu ra” cho sản phẩm thì việc nuôi cá ngựa sẽ mang lại lợi nhuận cao. Ngoài việc cung cấp cho thị trường nội địa, hiện nay cá ngựa được xuất khẩu sang các khu vực như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore với số lượng lớn, nhiều khi cung không đủ cầu. Theo nhiều nghiên cứu, cá ngựa còn là một vị thuốc bổ, tốt cho sức khỏe của người già hoặc phụ nữ vô sinh, thai ra khó, trong nhiều trường hợp còn chữa được bệnh hen suyễn. Trên thị trường hiện nay, phần lớn cá ngựa được tiêu thụ ở dạng khô. Cá được rửa sạch bằng nước ngọt, phơi khô 2 - 3 ngày là có thể xuất bán hoặc sử dụng.
Cũng theo TS Kỳ, hiện nay cá ngựa đang được giới chơi cá cảnh chú ý. Vì vậy, ngoài việc nuôi cá ngựa giống, người ta bắt đầu chú trọng đến việc nuôi cá ngựa cảnh. Giá một con cá ngựa nuôi cảnh ở Hawaii là 70 - 300 USD, còn ở Việt Nam, giá cá ngựa cảnh chỉ dao động từ 3 - 5 USD. Hiện nay, Viện Hải dương học đã thành công trong việc khép kín chu trình nuôi cá ngựa, thuần hóa và chuyển đổi màu sắc của chúng. Kết quả này có thể ứng dụng để phát triển nghề nuôi cá cảnh ở nước ta.
LỆ HẰNG
![[Video] Công an phường Đông Hải nhanh chóng làm rõ vụ trộm cắp tài sản của khách du lịch](/file/e7837c02857c8ca30185a8c39b582c03/012026/ca_20260122152227.jpg?width=500&height=-&type=resize)



