
Kế thừa và phát huy thành quả của các nhiệm kỳ trước, Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI diễn ra trong xu hướng nền kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng cao của giai đoạn 2001 - 2010.
DỰ THẢO
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA KHÓA XVI
TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVII
Kế thừa và phát huy thành quả của các nhiệm kỳ trước, Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVI diễn ra trong xu hướng nền kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng cao của giai đoạn 2001 - 2010. Tuy nhiên, ngay năm đầu tiên (2011) triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, tình hình suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính thế giới đã tác động tiêu cực đến kinh tế trong nước. Trước tình hình đó, Chính phủ đã điều chỉnh một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn mới. Tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cũng đã điều chỉnh một số chỉ tiêu phấn đấu cho sát với tình hình thực tế, làm cơ sở để tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu nền kinh tế và phân bổ đầu tư công theo kế hoạch, nâng cao hiệu quả đầu tư và phát triển. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề phức tạp ở biển Đông… để chống phá sự nghiệp xây dựng đất nước. Trước tình hình trên, toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân trong tỉnh đã đoàn kết, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Với tinh thần “Dân chủ, đoàn kết, phát triển”, Đại hội sẽ tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2010 - 2015 và định hướng cho toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân trong tỉnh 5 năm tới tập trung khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương, phấn đấu xây dựng Khánh Hòa là trung tâm phát triển của khu vực Nam Trung bộ và Tây nguyên, sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XVI (2010-2015)
I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
1- Nền kinh tế từng bước vượt qua khó khăn, tốc độ tăng trưởng ổn định; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng Nghị quyết đã đề ra và theo hướng bền vững; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế
Trước nhiều khó khăn, thách thức do tác động tiêu cực của các biến động về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và khu vực, 5 năm qua tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm duy trì sự ổn định của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân tăng 8,3%/năm (GRDP tăng 6,06%/năm), tuy thấp hơn mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI đề ra (12-13%/năm) nhưng phù hợp với tình hình thực tế trong nước và thế giới trong 5 năm gần đây. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 2.650 USD.
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng qua các năm và đạt trên 110 nghìn tỷ đồng trong 5 năm 2011 - 2015, tăng gấp 2,3 lần so giai đoạn 2005 - 2010. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên GDP bình quân đạt 42%. Thực hiện tái cơ cấu đầu tư công trên địa bàn tỉnh theo Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ. Nguồn vốn ngân sách đã tập trung đầu tư theo 4 chương trình phát triển kinh tế - xã hội, triển khai các công trình trọng điểm nhằm tạo động lực phát triển trong thời gian tới, đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng Quốc lộ 1A. Huy động vốn đầu tư theo hình thức BT và sử dụng vốn ODA để triển khai các dự án xây dựng hạ tầng có tác dụng lan tỏa, có tính liên kết vùng nhằm đẩy mạnh quá trình đô thị hóa của tỉnh.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo đúng định hướng Nghị quyết đề ra (dịch vụ - du lịch; công nghiệp - xây dựng; nông, lâm, thủy sản) và theo hướng tăng tỷ trọng các ngành kinh tế biển, đặc biệt là du lịch biển, đảo. Tái cơ cấu kinh tế của các doanh nghiệp đi dần theo chiều sâu, tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao như du lịch, dịch vụ kho ngoại quan.
Công nghiệp và xây dựng có mức tăng trưởng hợp lý, giữ vị trí chủ lực góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế của tỉnh. Một số sản phẩm chủ lực đóng góp khá lớn vào giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh như: các mặt hàng thực phẩm chế biến, đồ uống, thuốc lá, dệt may, đóng tàu biển. Một số dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp đã đưa vào hoạt động như Nhà máy Nước giải khát cao cấp Yến Sào, Nhà máy Sơ chế và tách cọng thuốc lá, Nhà máy Thủy điện Sông Giang 2 góp phần tạo thêm năng lực mới cho ngành công nghiệp của tỉnh. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đã tích cực đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến công nghệ, tiết giảm chi phí sản xuất, sử dụng năng lượng có hiệu quả song song việc tích cực mở rộng thị trường mới. Tỉnh đã chuẩn bị thủ tục triển khai xây dựng một số dự án quy mô lớn như Nhà máy Nhiệt điện than của Tập đoàn Sumitomo, Nhà máy Bia Sài Gòn, cùng một số nhà máy thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp đóng tàu. Các đề án phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản có giá trị gia tăng cao; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường vào sản xuất kinh doanh, tạo động lực phát triển công nghiệp trong thời gian tới được quan tâm triển khai thực hiện. Tiểu thủ công nghiệp và nghề truyền thống được khuyến khích, tạo điều kiện và phát triển thuận lợi, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội.
Khu vực dịch vụ - du lịch tiếp tục phát triển, các chỉ tiêu chủ yếu về du lịch hàng năm đều tăng từ 15% đến 25%, trong đó giá trị dịch vụ du lịch tăng bình quân giai đoạn 2010 - 2015 vượt 3,2% so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI. Tổng số lượt du khách đến Khánh Hòa giai đoạn 2010 - 2015 gần 15 triệu lượt người, trong đó khách quốc tế hơn 3,5 triệu lượt người, doanh thu du lịch đạt hơn 20.000 tỷ đồng. Cơ sở kinh doanh du lịch tiếp tục phát triển theo xu hướng đầu tư chiều sâu, quy mô lớn. Các loại hình, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, nâng cao chất lượng; hoàn thành và triển khai thực hiện Đề án phát triển dịch vụ - du lịch, khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ có lợi thế và giá trị gia tăng cao. Hoạt động xúc tiến quảng bá, công tác an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường du lịch tiếp tục được tăng cường và có nhiều tiến bộ.
Hoạt động thương mại tiếp tục phát triển với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn hàng năm đều tăng. Nhiều trung tâm thương mại của các nhà bán lẻ hàng đầu trong và ngoài nước như Metro Cash & Carry, Co-op Mart, Big C đi vào hoạt động tại tỉnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu mua sắm của nhân dân và du khách. Thị trường xuất khẩu mở rộng đến 105 quốc gia, tăng 20 nước so năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn năm 2015 ước đạt 1.252 triệu USD.
Ngành nông nghiệp đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung, giải quyết được nhu cầu lương thực tại chỗ cho đồng bào miền núi; tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định. Ngành lâm nghiệp đã thực hiện tốt công tác phòng, chống cháy rừng và phòng, chống, ngăn chặn tình trạng vi phạm Luật Quản lý và bảo vệ rừng; tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%. Ngành thủy sản phát triển đa dạng sản lượng tăng bình quân 2,6%/năm, trong đó sản lượng khai thác thủy sản tăng bình quân 3,2%/năm. Đã tiến hành quy hoạch không gian ven bờ biển, xác định quy hoạch chi tiết các vùng nuôi trồng thủy sản theo Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững (CRSD). Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 2,98%/năm.
Năm 2014, thu ngân sách trên địa bàn tỉnh vượt mốc 15.000 tỷ đồng; năm 2015 phấn đấu thu trên 15.700 tỷ đồng, gấp 2,18 lần so với năm 2010; tốc độ thu ngân sách nhà nước bình quân tăng 12,7%/năm, trong đó thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu bình quân tăng 21,1%/năm và thu nội địa bình quân tăng 8%/năm. Hệ thống ngân hàng tiếp tục phát triển với 35 chi nhánh các tổ chức tín dụng; 149 điểm giao dịch ngân hàng, so đầu năm 2010 tăng 18 điểm giao dịch, phân bổ đến các huyện, thị xã, thành phố. Hoạt động ngân hàng tập trung tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; giữ mức tăng trưởng tốt, huy động vốn và dư nợ cho vay tăng trưởng hàng năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên và phù hợp với mục tiêu phát triển của tỉnh. Hoạt động của các tổ chức tín dụng về cơ bản an toàn, lành mạnh.
Các thành phần kinh tế của tỉnh đều được bảo đảm môi trường thuận lợi và công bằng trong cạnh tranh; khu vực dân doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tạo nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa được quan tâm hỗ trợ nhằm nâng cao sức cạnh tranh, phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống người lao động. Các nguồn lực để phát triển nền kinh tế được quản lý, phân bổ, sử dụng có hiệu quả. Nhiều sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp trong tỉnh có thương hiệu mạnh và sức canh tranh cao.
2- Tích cực triển khai thực hiện các nghị quyết phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm, bước đầu thực hiện các nội dung Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Định hướng phát triển kinh tế 3 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh ngày càng rõ nét, tốc độ đô thị hóa diễn ra tương đối nhanh, nhiều đô thị được nâng loại, diện mạo đô thị văn minh hiện đại ngày càng phát triển, hình thành nhiều khu đô thị mới. Các công trình kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn được quan tâm đầu tư phát triển, gắn với chỉnh trang đô thị và xây dựng nông thôn mới, đã thu hút vốn ngoài ngân sách tham gia đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, một số dự án lớn về du lịch đã triển khai xây dựng hoàn thành và đưa vào khai thác (nhất là ở khu vực thành phố Nha Trang); công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, cải cách thủ tục hành chính, bảo vệ môi trường được quan tâm đúng mức, an ninh - quốc phòng được giữ vững... Những kết quả đạt được đã góp phần làm thay đổi diện mạo của các địa phương trong các vùng kinh tế.
Khu vực vịnh Cam Ranh tập trung triển khai các dự án phát triển hạ tầng trọng điểm, trong đó nhiều công trình, dự án đã đầu tư hoàn thành và đưa vào sử dụng như: Đường 3/4, đường Tỉnh lộ 9 đi Khánh Sơn, đường dây và trạm biến áp 110KV Nam Cam Ranh, phủ điện thôn đảo Bình Hưng, hồ chứa nước Tà Rục, hệ thống xử lý chất thải rắn xã Cam Thịnh Đông; đang triển khai thi công đường cất hạ cánh số 2 và mở rộng sân đỗ - Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh (dự kiến hoàn thành năm 2016). Đầu tư hoàn thành hạ tầng cơ sở khu hành chính và các dự án thuộc hệ thống trục đường giao thông chính khu trung tâm hành chính huyện Cam Lâm (đường Phạm Văn Đồng, Lý Thái Tổ…). Hoàn thành cơ bản hạ tầng Khu du lịch Bắc bán đảo Cam Ranh (giai đoạn 1 của hệ thống tuyến đường nhánh, hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, nhà máy cấp nước và đang triển khái các hạng mục giai đoạn 2). Các dự án du lịch đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách được cấp giấy chứng nhận đầu tư, đã có 19 dự án được cấp phép xây dựng và đã khởi công. Hiện nay, có dự án hoàn thành từng phần và đã đưa vào khai thác, kinh doanh (Dự án Khu du lịch Đỉnh Vàng, Dự án Cam Ranh Riviera Beach Resort & Spa giai đoạn 1...); dự kiến trong năm 2015 sẽ có thêm từ 2 đến 3 dự án đưa vào khai thác giai đoạn 1.
Khu kinh tế Vân Phong, đã tiến hành đồng bộ về lập quy hoạch chi tiết xây dựng các khu chức năng, thu hút đầu tư, lập dự án đầu tư và xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội quan trọng thiết yếu. Đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng và xây dựng các khu tái định cư (Xóm Quán, Ngọc Sơn, Ninh Thuỷ - giai đoạn 1); tích cực triển khai công tác giải phóng mặt bằng để hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện một số dự án lớn như Trung tâm Điện lực Vân Phong, Khu Công nghiệp Ninh Thủy. Hoàn thành và đưa vào hoạt động Kho xăng dầu ngoại quan, Trạm phân phối xi măng Nghi Sơn, Dự án Quốc lộ 1A đi Ninh Hải; triển khai Dự án Cải tuyến Tỉnh lộ 1B (giai đoạn 1).
Thành phố Nha Trang hoàn thành điều chỉnh Quy hoạch chung đến năm 2025, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; hình thành một số khu đô thị mới và đưa vào hoạt động (Khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, Khu đô thị Phước Long...); hoàn thành và đưa vào khai thác, sử dụng một số dự án du lịch có quy mô lớn, nhiều thương hiệu khách sạn có đẳng cấp thế giới đã có mặt tại Nha Trang -Khánh Hòa như Sheraton, Novotel, InterContinental, Best Western; đang triển khai xây dựng đường Cao Bá Quát - Cầu Lùng để hoàn thiện đoạn 3 tuyến đường Nha Trang đi Đà Lạt, đường Phong Châu; hoàn thành các dự án nâng cấp hệ thống thủy lợi, thoát nước, vệ sinh môi trường của thành phố như Dự án cải thiện vệ sinh môi trường, hạ tầng cụm công nghiệp Đắc Lộc, hệ thống thoát lũ từ cầu Phú Vinh về đầu sông Tắc, chỉnh trị hạ lưu sông Tắc - sông Quán Trường; hoàn thành đưa vào sử dụng các dự án nhà ở xã hội, nhà ở thu nhập thấp, một số dự án xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao; đang triển khai xây dựng mới các trường: THPT chuyên Lê Quý Đôn, THPT Nam Nha Trang, Cao đẳng Nghề Nha Trang, Cao đẳng Y tế Khánh Hòa, Trường Chính trị tỉnh...; đã phê duyệt quy hoạch và đang chuẩn bị triển khai hạ tầng Khu trung tâm đô thị thương mại - dịch vụ - tài chính - du lịch Nha Trang (sân bay Nha Trang); đã tiến hành lập Quy hoạch chi tiết 1/500 Khu đô thị - hành chính mới của tỉnh; chú trọng trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử phục vụ phát triển du lịch - văn hóa.
Thực hiện Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Tỉnh ủy ban hành và triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TU, ngày 03/7/2013 phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực, địa phương. Đã chú trọng phát triển đô thị vừa và nhỏ đi đôi với đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng đô thị thiết yếu; tập trung đầu tư các dự án quan trọng, then chốt; một số dự án đã đưa vào hoạt động đem lại hiệu quả ban đầu và một số dự án đã hoàn chỉnh thủ tục đầu tư. Các đô thị, vùng kinh tế trên địa bàn tỉnh đều có quy hoạch chung; triển khai hạ tầng cấp thoát nước, cấp điện; chỉnh trang và nâng cấp chất lượng vệ sinh, môi trường đô thị; cải tiến chất lượng dịch vụ công và xây dựng công trình phúc lợi công cộng. Đang xúc tiến thủ tục để triển khai thành lập Trường Đại học Khánh Hòa và chuyển giao, tiếp nhận Cảng Nha Trang và chuyển đổi công năng thành Cảng hành khách và tổ hợp dịch vụ để phát triển dịch vụ du lịch. Từng bước hoàn chỉnh hệ thống giao thông nông thôn, nội tỉnh, liên vùng; bảo đảm các chính sách để phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, biển, đảo. Xây dựng mới hệ thống đê, các công trình ngăn mặn giữ ngọt, tiêu úng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Xây dựng Đề án Đặc khu hành chính - kinh tế Bắc Vân Phong và Đề án điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Cam Ranh, chuyển 2 xã Cam Bình, Cam Lập thuộc huyện Trường Sa nhằm củng cố hệ thống chính trị kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng nhằm xây dựng, phát triển huyện Trường Sa trở thành pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
3- Triển khai đồng bộ, hiệu quả 4 chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 đã tạo điều kiện, góp phần cải thiện đời sống và thu nhập của cư dân nông thôn được nâng lên, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi; kết cấu hạ tầng cơ sở ở nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp. Tổng nguồn vốn đầu tư thực hiện xây dựng nông thôn mới trong 4 năm (2011 - 2014) là 14.706 tỷ đồng, trong đó vốn huy động từ các doanh nghiệp là 181,535 tỷ đồng, đóng góp của cộng đồng dân cư là 267,976 tỷ đồng. Cuối năm 2014 có 10/94 xã đạt 19 tiêu chí (chiếm 10,6% tổng số xã), 05/94 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí (chiếm 5,3% tổng số xã), 31/94 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí (chiếm 33% tổng số xã), 44/94 xã đạt từ 05 - 09 tiêu chí (chiếm 46,8% tổng số xã); 04/94 xã đạt dưới 05 tiêu chí, giảm 32 xã so với năm 2011; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân chung của toàn tỉnh là 9,9 tiêu chí/xã, so với tháng 7/2011 tăng bình quân 4,47 tiêu chí/xã. Đến cuối năm 2015 có 20 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020 đã góp phần nâng cao ý thức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đồng bào dân tộc thiểu số; ngân sách tỉnh giai đoạn 2011-2015 đã bố trí 56,7 tỷ đồng để đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu; xây dựng, nhân rộng và hỗ trợ mô hình phát triển kinh tế hộ, giảm nghèo bền vững; hỗ trợ đào tạo nghề cho 2.806 lao động nông thôn là người dân tộc thiểu số, trong đó có 2.045 lao động qua đào tạo được bố trí việc làm; hỗ trợ xây mới 295 nhà và tô trát, sửa chữa 382 nhà cho đồng bào dân tộc thiểu số; tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh qua mỗi năm; 100% xã, thôn có các công trình thiết yếu phục vụ dân sinh. Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số bình quân hàng năm giảm 8,6%, đạt mục tiêu của chương trình đề ra; thu nhập bình quân đầu người của đồng bào dân tộc thiểu số đến cuối năm 2014 là 7,2 triệu đồng/ năm; phấn đấu đến cuối năm 2015, thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số đạt mục tiêu đề ra là 8,16 triệu đồng/người/năm.
Chương trình phát triển hệ thống đô thị giai đoạn 2011-2015 được huy động từ nhiều nguồn vốn để thực hiện. Tổng kinh phí đã giải ngân để thực hiện các dự án của Chương trình tại các địa phương là 11.571 tỷ đồng. Đã hoàn thành 25 đồ án quy hoạch trên địa bàn toàn tỉnh với kinh phí đầu tư 65,659 tỷ đồng. Ngoài sử dụng nguồn vốn ngân sách để lập quy hoạch xây dựng các đô thị, việc huy động nguồn vốn của doanh nghiệp đã được quan tâm triển khai như: Tổ chức cuộc thi quốc tế về ý tưởng Quy hoạch Khu trung tâm đô thị Thương mại - Dịch vụ - Tài chính - Du lịch Nha Trang (238 ha), Quy hoạch Khu đô thị và trung tâm hành chính của tỉnh (khoảng 700 ha), Quy hoạch Khu đô thị dọc đường Nha Trang – Diên Khánh (557 ha), Quy hoạch khu đô thị ven biển vịnh Cam Ranh (1.422 ha)... Đã tổ chức cuộc thi ý tưởng Quy hoạch chi tiết 1/500 Khu đô thị hành chính của tỉnh với quy mô khoảng 126 ha, trong đó Khu trung tâm hành chính khoảng 40 ha. Đã xây dựng hoàn thành 41 dự án hạ tầng kỹ thuật với kinh phí 5.010 tỷ đồng, gồm một số công trình trọng điểm như: hệ thống thoát nước thải và nhà máy xử lý chất thải rắn tại thành phố Cam Ranh với khối lượng đã thực hiện 160 tỷ và hệ thống cấp nước sinh hoạt tại thị xã Ninh Hòa với khối lượng thực hiện khoảng 115 tỷ... Một số dự án xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao đã hoàn thành như: Bệnh viện mắt Thái Thành Nam với khối lượng thực hiện khoảng 64 tỷ, Trường THPT Ischool với khối lượng đã thực hiện khoảng 10 tỷ; hồ bơi Yết Kiêu; Bệnh viện đa khoa Tâm Trí...Về phát triển nhà ở và khu dân cư, đã có một số dự án hoàn thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật và chuyển sang khai thác, kinh doanh như: Khu dân cư Vĩnh Điềm Trung 36,86 ha, Khu đô thị mới Phước Long 48,2 ha, Khu đô thị Mỹ Gia 181,96 ha, Chung cư cao cấp Bãi Dương với 162 căn hộ. Một số dự án nhà ở xã hội cũng đã hoàn thiện đưa vào sử dụng như Chung cư An Thịnh - Vĩnh Hải 120 căn hộ, Chung cư An Bình - Vĩnh Nguyên 136 căn hộ, Ký túc xá sinh viên Nha Trang 980 sinh viên.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến năm 2020 được tỉnh quan tâm triển khai; nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh quản lý giai đoạn 2011 - 2015 đã bố trí 1.293,2 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ cho cấp huyện là 601,1 tỷ đồng để đầu tư cơ sở vật chất theo chương trình được phê duyệt; sử dụng nguồn chi sự nghiệp để đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ, viên chức nên bước đầu cơ bản giải quyết đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và cơ cấu trình độ, ngành, nghề phục vụ yêu cầu phát triển của tỉnh. Đã hỗ trợ đào tạo cho các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên một số ngành, nghề như sư phạm, chăm sóc sức khỏe, phát triển nguồn lợi thủy sản. Bước đầu xây dựng đội ngũ nhân lực có sức khoẻ tốt, phát triển toàn diện, có tri thức và kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập.
4- Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước phát triển, với sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, tạo được sự gắn kết khá chặt chẽ với phát triển kinh tế; các chính sách xã hội đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, ổn định xã hội; các vấn đề bức xúc xã hội được quan tâm giải quyết
Tỉnh có các chủ trương, chính sách, giải pháp phù hợp để phát huy lợi thế của địa phương, tạo động lực để thúc đẩy các mặt văn hóa - xã hội tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh khó khăn chung.
Hệ thống trường, lớp phát triển đa dạng theo quy định trong hệ thống giáo dục quốc dân, phân bổ hợp lý, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế hạ tầng của các vùng dân cư trong tỉnh; có 165 trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia (tăng 90 trường so với đầu nhiệm kỳ). Tỷ lệ trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt trên 99%; 100% trường mẫu giáo huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh có bán trú; 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 83,6% học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày. Chất lượng giáo dục, đào tạo ổn định và từng bước được nâng lên; học sinh tốt nghiệp các cấp hàng năm đều đạt tỷ lệ cao. Kết quả thi tuyển vào đại học, cao đẳng nằm trong tốp các tỉnh, thành phố có tỷ lệ đậu cao. Tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Kỷ cương trong thi cử tiếp tục được chấn chỉnh. Đội ngũ giáo viên các cấp học, ngành học được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn. Hệ thống các cơ sở dạy nghề tham gia tích cực vào công tác đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề, chuyên môn. Đến cuối năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 47,5%. Xúc tiến thủ tục để triển khai thành lập Trường Đại học Khánh Hòa; chú trọng mở rộng hợp tác, liên kết giữa các trường, viện, các cơ quan nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế, các doanh nghiệp trên địa bàn phục vụ công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển của tỉnh và một phần của khu vực.
Tăng cường các biện pháp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đẩy mạnh đầu tư cơ sở vật chất, trang, thiết bị, từng bước hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nâng cấp, củng cố, kiện toàn mạng lưới y tế, nhất là tuyến cơ sở; khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện tuyến tỉnh. Đầu tư Bệnh viện đa khoa tỉnh thành bệnh viện vùng. Thực hiện liên kết tiếp nhận chuyển giao các kỹ thuật y khoa tiên tiến; mở thêm một số chuyên khoa và các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện tuyến tỉnh. Mở rộng việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, bảo đảm người dân được tiếp cận các dịch vụ y tế chất lượng cao; nhiều bệnh viện tư nhân được cấp phép và hoạt động ổn định. Hệ thống phòng khám chuyên khoa và chẩn trị y học cổ truyền tiếp tục phát huy tác dụng trong khám, điều trị cho người dân. Triển khai có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia, khống chế không để xảy ra dịch lớn trên địa bàn, giảm số mắc bệnh và tử vong do các bệnh dịch nguy hiểm, thanh toán uốn ván sơ sinh và bệnh phong, ngăn chặn tốc độ phát triển của bệnh lao, HIV/AIDS. Chấn chỉnh công tác quản lý Nhà nước về y tế, thường xuyên kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm. Đến năm 2015, có 27,5 giường bệnh và 5,5 bác sĩ trên 10.000 dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 10% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết).
Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa từng bước được nâng cấp, xây dựng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Nhiều di tích lịch sử văn hóa được trùng tu, tôn tạo theo đúng tiến độ và đưa vào sử dụng. Các hoạt động văn hóa - nghệ thuật được tổ chức thường xuyên, thiết thực. Tổ chức thành công các kỳ Festival Biển cùng nhiều sự kiện văn hóa quy mô lớn, tầm quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh vùng đất, con người Khánh Hòa đến bạn bè, du khách trong và ngoài nước. Phong trào Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa từng bước đi vào thực chất, toàn tỉnh có 95% cơ quan, 90% gia đình, 70% thôn/tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa, đạt mục tiêu đề ra.
Phong trào thể dục - thể thao quần chúng phát triển sâu, rộng; tỷ lệ người tập luyện thể dục - thể thao thường xuyên đạt 30,42% dân số và 32,33% hộ gia đình đạt tiêu chí gia đình thể thao. Thể thao thành tích cao được đầu tư có trọng điểm; một số bộ môn luôn nằm trong tốp đầu toàn quốc, hàng năm đóng góp nhiều vận động viên cho các đội tuyển thể thao quốc gia. Công tác xã hội hóa thể dục - thể thao khá tích cực cả trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động.
Công tác quản lý Nhà nước về gia đình từng bước đi vào ổn định, 100% huyện, xã thành lập ban chỉ đạo công tác gia đình và hoạt động hiệu quả. Các chỉ tiêu thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới của tỉnh đều đạt. Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 29%.
Khoa học - công nghệ có tiến bộ, trình độ công nghệ của một số lĩnh vực, ngành tiếp tục nâng cao. Đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai và ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học - công nghệ trong sản xuất, kinh doanh, trong tổ chức, quản lý xã hội, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa. Phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được duy trì ở nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Công tác quản lý, phát triển ngành thông tin và truyền thông đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thông tin truyền thông, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị, công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp và nhu cầu thông tin của tổ chức, công dân. Các dịch vụ bưu chính - viễn thông được phát triển theo hướng đa dạng sản phẩm, nâng cao chất lượng và mở rộng vùng cung cấp dịch vụ đến mọi nơi trong toàn tỉnh. Các cơ quan, đơn vị có chức năng hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản được đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyên môn hóa đội ngũ theo hướng tiếp cận được với xu thế truyền thông hiện đại và là lực lượng chủ chốt trong việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, định hướng dư luận xã hội, giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa, nghệ thuật đến mọi người.
Đã có 8/8 huyện, thị xã, thành phố (không kể huyện Trường Sa) hoàn thành quy hoạch sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt 100% kế hoạch, ước đạt 95% diện tích các loại đất cần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Công tác lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và hoạt động bảo tồn thiên nhiên đã đi vào nề nếp, tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường đạt 87% (Nghị quyết đề ra 80%). Từng bước xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong khu dân cư theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; quy hoạch quản lý chất thải rắn đô thị và công nghiệp; 100% rác trong khu, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, các bệnh viện tuyến tỉnh được thu gom, vận chuyển và xử lý; 100% bệnh viện tuyến huyện được lắp đặt lò đốt rác y tế đạt tiêu chuẩn. Các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh đều có hệ thống xử lý nước thải; hoàn thành công tác xử lý nước thải trong các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; đưa vào sử dụng 06 dự án cấp nước sinh hoạt nông thôn có quy mô lớn, giải quyết cho trên 92% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh và trên 21,5% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch theo tiêu chí Bộ Y tế.
Các chính sách xã hội luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt. Qua hoạt động đào tạo, dạy nghề, tư vấn giới thiệu việc làm và các chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh đã tạo việc làm cho 157.966 lao động, trong đó mỗi giới (nam và nữ) đều chiểm tỷ lệ trên 45%. Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng, giảm tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản. Công tác giảm nghèo có nhiều tiến bộ; tỷ lệ hộ nghèo từ 9,4% năm 2010, nay còn dưới 3% (đạt chỉ tiêu Nghị quyết đề ra). Chi trả kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách của Trung ương và địa phương cho đối tượng người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội. Không ngừng huy động nguồn lực của toàn dân cho công tác an sinh xã hội; đảm bảo 100% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân cư trú; 100% xã, phường, thị trấn làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ. Thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội; quan tâm chăm lo công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi và trợ giúp người khuyết tật; hỗ trợ kịp thời cho người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai…, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Nhiều chính sách và giải pháp đồng bộ nhằm phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn, miền núi, hải đảo tiếp tục phát huy tác dụng, nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, người dân nông thôn, người yếu thế được cải thiện đáng kể. Nông thôn, miền núi tiến bộ nhiều mặt; nhiều hộ đồng bào thiểu số, vùng sâu, vùng biển, đảo cũng đã thoát nghèo và tiến đến làm giàu.
Tỉnh công bố danh mục 109 thủ tục hành chính được tiếp nhận, giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trực tuyến qua mạng Internet ở mức độ 3 và quy trình thực hiện; hiện đại hóa một bước về cách thức giao tiếp, giải quyết công việc, thủ tục hành chính giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan hành chính nhà nước. Tạo liên kết cơ sở dữ liệu đến website các cơ quan, đơn vị để bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và tiết kiệm thời gian, chi phí cập nhật thủ tục khi có thay đổi. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo hướng hiện đại được mở rộng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện ở cả ba cấp.
5- Công tác quốc phòng, an ninh tiếp tục được tăng cường và kết hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần ổn định chính trị - xã hội
Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, gắn với xây dựng tỉnh Khánh Hòa thành khu vực phòng thủ cơ bản, liên hoàn, vững chắc. Đảm bảo hài hòa phát triển kinh tế đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh. Công tác tuyên truyền, giáo dục về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong hệ thống chính trị và các đối tượng khác được nâng lên. Chất lượng xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện có chuyển biến, 131/140 (93,57%) xã, phường đạt vững mạnh về quốc phòng - an ninh, 75/140 (53,57%) xã, phường đạt vững mạnh toàn diện. Thực hiện quy hoạch thế trận khu vực phòng thủ cấp tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố. Tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ tỉnh và 8/8 huyện, thị xã, thành phố (không tính huyện Trường Sa) đạt kết quả tốt. Diễn tập chiến đấu trị an cho 171 lượt/140 xã, phường, thị trấn. Diễn tập phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống cháy rừng các cấp. Luật Nghĩa vụ quân sự, chính sách quân đội, hậu phương quân đội được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. Việc duy trì quân số đạt 91,3% so với quy hoạch. Các chỉ tiêu về xây dựng lực lượng vũ trang đều đạt và vượt. Hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân hàng năm. Tỷ lệ dân quân, tự vệ đạt 1,49% dân số tỉnh. Đảng viên lực lượng vũ trang và dân quân, tự vệ đạt 22,15% quân số. 100% xã, phường, thị trấn (không kể các xã, thị trấn huyện Trường Sa) có chi bộ quân sự. Thành lập 02 trung đội dân quân biển tập trung, 27 tiểu đội dân quân thường trực; xây dựng 68 đầu mối đơn vị dự bị động viên. Luôn bảo đảm đầy đủ hậu cần, kỹ thuật, tài chính cho các nhiệm vụ quốc phòng - quân sự địa phương của tỉnh; thế trận lòng dân ở địa bàn cơ sở luôn được quan tâm xây dựng vững mạnh, góp phần tạo thế trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh Nhân dân trong khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.
Tiếp tục thực hiện tốt Luật Biên giới quốc gia; tuyên truyền, giáo dục, thực hiện Luật Biển Việt Nam. Triển khai đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng, tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát, nắm chắc tình hình địa bàn, quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới biển, đảo; đấu tranh có hiệu quả với các loại đối tượng xâm phạm an ninh quốc gia trên khu vực biên giới biển, đảo phụ trách; xây dựng, củng cố, hoàn thiện thế trận liên hoàn giữa khu vực biên giới và nội địa.
Triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Đẩy mạnh phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; an ninh, trật tự và an toàn xã hội được bảo đảm. Nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng của cán bộ và nhân dân trước âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đẩy mạnh các biện pháp quản lý, kiềm chế, vô hiệu hóa các đối tượng, các hoạt động chống đối. Tăng cường sự phối hợp đồng bộ trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm. Thực hiện tốt công tác phòng, chống tệ nạn xã hội. Quan tâm giải quyết đơn, thư khiếu nại tố cáo, các mâu thuẫn, bức xúc từ cơ sở nhằm hạn chế tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp.
6- Công tác xây dựng Đảng có nhiều đổi mới; hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố
Công tác chính trị, tư tưởng tiếp tục đổi mới nội dung và phương pháp, theo đúng định hướng của Trung ương, chủ động bám sát thực tiễn. Việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết Trung ương được tổ chức từ tỉnh xuống cơ sở, ngày càng đổi mới nội dung, phương pháp quán triệt theo hướng tăng cường thảo luận, góp ý xây dựng các chương trình hành động của cấp ủy đảng; kịp thời thông tin chính xác, chính thống đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vụ, việc nổi cộm trong tỉnh, về tình hình biển, đảo, qua đó đã định hướng dư luận, góp phần củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận của nhân dân. Các cấp ủy đảng đã chỉ đạo tích cực đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vấn đề về biển Đông; tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục phẩm chất, đạo đức, lối sống cho đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức.
Công tác xây dựng, củng cố tổ chức đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được chú trọng và có nhiều chuyển biến tích cực. Đảng bộ tỉnh có 14 đảng bộ trực thuộc, 556 tổ chức cơ sở đảng trong đó có 234 đảng bộ cơ sở (giảm 137 tổ chức cơ sở đảng so với đầu nhiệm kỳ do thành lập đảng bộ trong các cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể huyện, thị xã, thành phố theo Hướng dẫn số 38 của Ban Tổ chức Trung ương). Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh hàng năm chiếm tỷ lệ cao và ổn định, từ 82 đến 87% (mục tiêu Nghị quyết là 75 – 80%); tỷ lệ đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hàng năm chiếm tỷ lệ trên 88%. Công tác phát triển đảng viên có nhiều tiến bộ, trong nhiệm kỳ đã kết nạp 7.359 đảng viên, đưa tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ lên 34.116 (tính đến hết tháng 10/2014); bình quân hàng năm kết nạp 1.851 đảng viên, vượt 23,4% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra (trên 1.500 đảng viên/năm). Trong đó, đảng viên được kết nạp trong độ tuổi thanh niên đạt tỷ lệ trên 50% (Nghị quyết đề ra là 70%). Thực hiện phát triển đảng viên và thành lập tổ chức đảng trong các doanh nghiệp tư nhân đã có công đoàn cơ sở đạt 46,01% (Nghị quyết đề ra là 50%).
Công tác tổ chức, cán bộ được triển khai đồng bộ, có hiệu quả với nhiều giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng cán bộ; các khâu trong công tác cán bộ, từ tuyển chọn, nhận xét, đánh giá cán bộ đến quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ được thực hiện hài hòa, chặt chẽ, đúng quy định; cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số và đội ngũ cán bộ cơ sở được chú trọng hơn. Hoàn thành công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt từ cấp huyện trở lên. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tiến hành thống nhất, chặt chẽ, xây dựng quy chế phối hợp với một số ngành trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ; các trường hợp vi phạm về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay đều không được xem xét để quy hoạch và bố trí sử dụng vào các chức danh cán bộ chủ chốt đầu ngành, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng; đồng thời, vận dụng xử lý tốt các trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị nhưng chưa tới mức vi phạm theo quy định của Trung ương.
Tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức bộ máy để tinh gọn và phù hợp với tình hình thực tế. Cùng với việc sắp xếp tổ chức bộ máy, quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bên trong của từng cơ quan, đơn vị cũng được quy định cụ thể; từng bước xây dựng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm đối với cán bộ, công chức, từ đó đã khắc phục dần tình trạng trùng lắp, chồng chéo nhiệm vụ giữa các cơ quan, đơn vị và làm tiền đề để cả hệ thống chính trị tỉnh hoạt động hiệu quả. Thành lập Ban Nội chính Tỉnh ủy; quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc của Tỉnh ủy theo các quy định và hướng dẫn của Trung ương.
Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy được triển khai thực hiện khá toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, góp phần nâng nâng cao ý thức chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tác dụng giáo dục, phòng ngừa vi phạm, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chính đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng và chất lượng đảng viên. Trong nhiệm kỳ, tiến hành kiểm tra 358 đảng viên, 63 tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm; kiểm tra 1.073 tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, 167 tổ chức đảng cấp dưới về việc thi hành Điều lệ Đảng; giám sát thường xuyên 2.395 đảng viên, 549 tổ chức đảng; giám sát theo chuyên đề 912 đảng viên, 467 tổ chức đảng; các cấp ủy thi hành kỷ luật 345 đảng viên (khiển trách 177, cảnh cáo 114, khai trừ 32, cách chức 22), 09 tổ chức đảng (khiển trách 08, cảnh cáo 01), ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 159 đảng viên (khiển trách 81, cảnh cáo 51, cách chức 09, khai trừ 18); giải quyết khiếu nại kỷ luật 16 trường hợp, trong đó có 01 tổ chức đảng và 15 đảng viên; giải quyết tố cáo đối với 117 đảng viên, 03 tổ chức đảng; kiểm tra thu, chi ngân sách đối với 81 tổ chức đảng, kiểm tra thu, nộp, quản lý, sử dụng đảng phí đối với 2.085 tổ chức đảng và 14.225 đảng viên.
Công tác vận động quần chúng của hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng thuận xã hội trong triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Đẩy mạnh thực hiện công tác dân vận và từng bước đa dạng hóa các hình thức tập hợp quần chúng nhân dân. Công tác dân vận của chính quyền được thể hiện rõ nét, quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội từng bước được thể chế hóa. Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội bước đầu triển khai Quyết định số 217-QĐ/TW, Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị về tham gia giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền bằng kế hoạch cụ thể, nội dung có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, phù hợp. Chú trọng việc quán triệt, triển khai, sơ kết, tổng kết chủ trương của Đảng về công tác dân vận; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; đảm bảo thực hiện nề nếp, hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền có nhiều đổi mới, theo hướng sâu sát thực tế, nắm vững cơ sở, chỉ đạo kịp thời và kiên quyết, qua đó đảm bảo dân chủ, kỷ cương. Thường xuyên tiến hành sơ kết, tổng kết những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để đánh giá, rút kinh nghiệm, đề ra những nhiệm vụ giải pháp thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, cơ sở. Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy luôn quan tâm đổi mới phong cách làm việc, nâng cao năng lực lãnh đạo; nêu cao quyết tâm, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục hạn chế, khó khăn, tiếp tục phấn đấu thực hiện phương hướng, mục tiêu Nghị quyết Đại hội đã đề ra. Thường xuyên sâu sát cơ sở và chỉ đạo các cấp ủy cấp dưới quán triệt, thực hiện phương châm "tỉnh sát xã, huyện sát thôn, xã sát các hộ dân" để kiểm tra, nghiên cứu tình hình và kịp thời chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, chỉ đạo giải quyết nhanh công việc cho địa phương, đơn vị và nhân dân; qua đó tiếp cận những vấn đề đặt ra từ thực tiễn để có ý kiến đề nghị điều chỉnh, bổ sung những chủ trương, quyết định lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, phù hợp.
Tăng cường và chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, đặc biệt là việc thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Trung ương nhằm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự xã hội tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế. Công tác cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhất là công tác tổ chức hoạt động các cơ quan tư pháp, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử. Công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng theo Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Kết luận Trung ương 5 (khóa XI) đã phát huy tác dụng, chuyển quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong công tác này thành quyết tâm chung của cả hệ thống chính trị trong tỉnh. Tập trung lãnh đạo triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa tham nhũng đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc thanh tra vụ việc khởi tố, điều tra, truy tố xét xử các vụ án tham nhũng phức tạp một cách nghiêm minh, đúng người, đúng tội, củng cố niềm tin, tạo được sự đồng thuận cao của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã nghiêm túc, thận trọng chỉ đạo quán triệt và tích cực triển khai thực hiện trong toàn Đảng bộ tỉnh. Hoàn thành việc kiểm điểm theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn, đảm bảo tiến độ đề ra. Từng tập thể, cá nhân lãnh đạo các cấp từ Ban Thường vụ Tỉnh ủy đến các địa phương, đơn vị, tổ chức đảng và đảng viên làm rõ được ưu điểm, khuyết điểm chủ yếu, rút ra những bài học kinh nghiệm, nhưng quan trọng nhất là đã xác định, đề ra những giải pháp thường xuyên, cơ bản lâu dài và những nhóm giải pháp ưu tiên phải thực hiện ngay nhằm khắc phục khuyết điểm, hạn chế. Các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên được cảnh báo, ngăn chặn. Nhiều nơi đã triển khai thực hiện những giải pháp thiết thực, kịp thời khắc phục, sửa chữa trên nhiều mặt, trong đó tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm trong dư luận xã hội, góp phần ổn định tình hình địa phương, đơn vị. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng tiếp tục được củng cố, đổi mới, nhất là về lề lối, tác phong làm việc, phát huy dân chủ. Nội bộ cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị nhận thức rõ hơn trách nhiệm lãnh đạo của mình, đoàn kết thống nhất, gắn bó, tin tưởng, hiểu biết nhau hơn, rút ra nhiều kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị được tốt hơn. Kết quả này làm rõ thêm nhiều vấn đề trong công tác xây dựng Đảng của tỉnh thời gian qua, là cơ sở quan trọng tiếp tục nghiên cứu, xây dựng một số đề án về công tác xây dựng Đảng.
Đã ban hành Đề án về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở; hướng dẫn thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý; đưa nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của Tỉnh ủy và nhiều quy định về quản lý, đề bạt, bổ nhiệm, cũng như kiểm tra, giám sát cán bộ đã được nghiên cứu điều chỉnh với tiêu chí ngày càng công khai, dân chủ, minh bạch trong công tác cán bộ; đã triển khai thực hiện quy chế chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và ban chấp hành đảng bộ các cấp; xây dựng quy định việc thực hiện lấy phiếu tín nhiệm hàng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể; đổi mới cách lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ theo hướng mở rộng đối tượng tham gia. Tập trung chỉ đạo kiểm tra đối với một số tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm và giám sát một số lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh tiêu cực, kịp thời chấn chỉnh, hạn chế tiêu cực, tham nhũng xảy ra.
Việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt nhiều chuyển biến rõ rệt. Ý thức trách nhiệm trong công việc, tự rèn luyện đạo đức, lối sống, tính tự giác, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương trong cán bộ, đảng viên ngày càng được nâng cao, nhất là ý thức trong thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí. Nhiều địa phương, đơn vị thực hiện tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ gắn với thực hiện nhiệm vụ cụ thể hàng ngày; cụ thể hóa quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp thành chuẩn mực đạo đức, phù hợp với đặc thù của địa phương, đơn vị. Đồng thời, lựa chọn một số vấn đề bức xúc, nổi cộm liên quan đến tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và một số vấn đề có liên quan làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội để đề ra kế hoạch, xác định thời gian tập trung chỉ đạo khắc phục.
Trong nhiệm kỳ 2010 - 2015, hoạt động của HĐND, UBND các cấp tiếp tục được đổi mới đã góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực cả về xây dựng thể chế, kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cải cách tài chính công; từng bước hiện đại hóa nền hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008. Vai trò đoàn kết tập hợp rộng rãi các tổ chức, đồng bào các giới, các tôn giáo, các dân tộc được phát huy, tăng cường đoàn kết trong nội bộ nhân dân.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM
1- Kinh tế tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra, nguồn lực dành cho đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn, một số chỉ tiêu chưa đạt so với kế hoạch đề ra
Công tác dự báo, đánh giá xu thế phát triển kinh tế còn nhiều bất cập, chưa lường hết khó khăn do suy thoái kinh tế trong và ngoài nước nên một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được đặt ra từ đầu nhiệm kỳ cao như tốc độ tăng trưởng GDP, GDP bình quân đầu người, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng do suy giảm kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước, công tác thu hút đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của 3 khu vực kinh tế trọng điểm (vịnh Cam Ranh, Nha Trang, Khu kinh tế Vân Phong) chưa được đầu tư hoàn chỉnh nên ảnh hưởng đến công tác xúc tiến đầu tư, cũng như hỗ trợ các dự án đầu tư trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động. Do thực hiện tái cấu trúc, một số dự án động lực do các tập đoàn kinh tế Nhà nước làm chủ đầu tư phải ngưng thực hiện nên ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của các vùng, nhất là các dự án trong Khu kinh tế Vân Phong. Bố trí nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi chưa nhiều.
Còn tình trạng khai thác và sử dụng tài nguyên biển quá mức ở một số nơi, các nguy cơ về ô nhiễm môi trường vẫn tiềm ẩn những diễn biến phức tạp.
Cải cách hành chính thực hiện phân tán theo chức năng của từng ngành, việc phối hợp giải quyết thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính còn chậm (đầu tư, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường), chưa có sự tập trung vào các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trọng điểm, chưa tạo ra đột phá trong giải quyết thủ tục hành chính, làm giảm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (chỉ đạt mức trung bình của cả nước).
2- Trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh còn một số hạn chế chậm được khắc phục
Công tác đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu sử dụng của xã hội, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ có hàm lượng trí thức và tay nghề cao. Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa cơ sở còn thiếu và một số nơi hiệu quả sử dụng thấp; nếp sống văn minh đô thị chưa được người dân tự giác thực hiện. Chất lượng khám, chữa bệnh của ngành y tế tuy được cải thiện nhưng thái độ, phong cách phục vụ của một bộ phận công chức, viên chức thuộc ngành còn hạn chế.
Cơ chế quản lý, cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn chưa hợp lý; thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ kết quả nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo với nhu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý, hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn thiếu định hướng chiến lược, hiệu quả thấp.
Nhiều công trình nước sạch thiếu quản lý, bảo dưỡng, nâng cấp nên chóng hư hỏng; do thu nhập thấp nên việc đóng góp để đấu nối đưa nước sạch vào sử dụng còn nhiều khó khăn. Một số khu vực dân cư ở hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh chưa được cung cấp nước hợp vệ sinh.
Khoảng cách thu nhập và hưởng thụ văn hóa giữa người giàu với người nghèo, giữa thành thị, đồng bằng với miền núi còn khá lớn, đặc biệt là mức thu nhập bình quân của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp. Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, chưa theo kịp những biến chuyển từ thực tế. Một số bộ môn thể thao thành tích cao của tỉnh đang trên đà suy giảm về nguồn nhân lực và thành tích.
Công tác quản lý địa bàn, nắm tình hình quốc phòng - an ninh ở một số địa phương chưa toàn diện. Các tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi. Công tác quản lý trật tự, an toàn giao thông, quản lý an ninh, trật tự đô thị một số nơi còn lỏng lẻo.
3- Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị còn một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng có nơi chưa chú trọng đến hoạt động đối thoại giữa người truyền đạt với người tiếp thu và liên hệ tình hình địa phương, cơ sở chưa sâu sát. Công tác hướng dẫn, định hướng tuyên truyền ở các cấp có thời điểm còn chậm.
Công tác quy hoạch cán bộ ở các cấp, các ngành, nhất là ở cơ sở còn khép kín, chưa thực hiện tốt phương châm quy hoạch "mở", xây dựng và thực hiện công tác quy hoạch có nơi chưa đảm bảo chất lượng. Công tác luân chuyển cán bộ ở một số cấp ủy mới chỉ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, chưa phục vụ cho chiến lược cán bộ lâu dài. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nặng về đào tạo trường lớp mà nhẹ về đào tạo, rèn luyện thử thách qua công tác thực tiễn; một số nơi chưa quan tâm đến công tác cán bộ nữ, cán bộ trẻ. Chưa cụ thể hóa được tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức nên kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa cao.
Chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số thôn, tổ dân phố, trường học và doanh nghiệp chưa đảm bảo yêu cầu theo Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư. Một số cấp ủy, chi bộ chưa quan tâm đúng mức đến công tác phát triển đảng viên, vì vậy, vẫn còn một số thôn, tổ dân phố, nhiều trường học, doanh nghiệp tư nhân chưa có đảng viên, chưa có tổ chức đảng.
Một số cấp ủy, ủy ban kiểm tra chưa thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, nhất là về nhiệm vụ kiểm tra dấu hiệu vi phạm. Công tác phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với một số cơ quan liên quan để kiểm tra, xem xét, giải quyết những vụ, việc mà dư luận xã hội quan tâm còn hạn chế.
Một số cấp ủy, chính quyền và một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác dân vận, trong quan hệ công tác còn nặng về biện pháp hành chính, thiếu phương pháp thuyết phục, vận động quần chúng; việc triển khai quán triệt và thực hiện một số chủ trương của Trung ương về công tác dân vận còn chậm, hiệu quả chưa cao. Phong trào hoạt động của Mặt trận, đoàn thể một số nơi còn nặng tính bề nổi, thiếu chiều sâu.
Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa thường xuyên, chưa có chuyên đề để giáo dục chuyên sâu, phù hợp với từng đối tượng. Việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng chưa mang lại hiệu quả cao. Công tác kiểm tra, giám sát chưa thực hiện thường xuyên, nhất là trong nội bộ các cơ quan, đơn vị.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng còn một số hạn chế như: Có nơi nhận thức về kiểm điểm tự phê bình và phê bình chưa đầy đủ, chưa đi sâu phân tích ba nội dung của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để thấy rõ những khuyết điểm của tập thể, cá nhân. Một số nơi còn chậm đề ra kế hoạch khắc phục hạn chế, khuyết điểm; có nơi kế hoạch chưa bám sát với thực tiễn của địa phương, đơn vị.
* Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm
Tình hình suy giảm kinh tế và bất ổn ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới cùng những khó khăn của đất nước đã gây nhiều tác động bất lợi đến việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Một số cán bộ lãnh đạo ở các cấp thiếu tính chủ động, quyết đoán; một bộ phận cán bộ, công chức năng lực hạn chế, còn thụ động trong thực thi nhiệm vụ. Việc vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước của các cấp, các ngành chưa đầy đủ, chậm cụ thể hóa; có lúc, có nơi chưa năng động, sáng tạo, thống nhất cao về nhận thức. Công tác thanh tra, kiểm tra, sơ tổng kết chưa thường xuyên, kịp thời.
Công tác dự báo và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế còn hạn chế, chưa lường hết những tình huống khó khăn; công tác phát triển ngành, lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu. Cái cách hành chính còn hạn chế nhiều mặt, chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Chưa có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành và các địa phương ven biển trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển.
Việc phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương chưa đồng bộ (thể chế, thủ tục), việc phân cấp cho địa phương còn nhiều hạn chế. Nhiều chủ trương của Bộ Chính trị, Chính phủ đã có nhưng triển khai chậm cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của địa phương.
III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1- Đánh giá tổng quát
Trong nhiệm kỳ, toàn Đảng bộ đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, nỗ lực lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI; luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh, sự chỉ đạo của Trung ương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, kịp thời, đạt hiệu quả các chủ trương của Trung ương và của tỉnh; tập trung chỉ đạo công tác phát triển kinh tế - xã hội vượt qua nhiều khó khăn thách thức, cố gắng thực hiện chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI ở mức cao nhất; chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, nhất là việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, qua đó, góp phần nâng cao năng lực và sức chiến đấu, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, củng cố lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
2- Những bài học kinh nghiệm
Những bài học kinh nghiệm quý báu từ các đại hội trước vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong nhiệm kỳ qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm:
Một - Tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng bộ tỉnh là yếu tố quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức.
Hai - Đổi mới phương thức lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cấp ủy đảng các cấp theo hướng lựa chọn và tập trung lãnh đạo có trọng tâm, trọng điểm, năng động, sáng tạo bằng các nghị quyết về các chương trình phát triển kinh tế xã hội, phát triển các vùng kinh tế, thực hiện các dự án trọng điểm làm đòn bẩy cho phát triển. Trên cơ sở đó, HĐND, UBND các cấp có trách nhiệm thể chế hóa cụ thể, bố trí nguồn lực tập trung theo chương trình, đảm bảo tính khả thi các chủ trương của tỉnh.
Ba - Trong lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cấp ủy đảng các cấp luôn chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tăng hiệu quả sản xuất, khai thác tối ưu tiềm năng, lợi thế; khuyến khích đầu tư phát triển một số loại hàng hóa, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, kịp thời sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần quan trọng trong việc ổn định, phát triển nền kinh tế; tăng năng xuất lao động và năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Bốn - Các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cho người có công, các gia đình chính sách, quan tâm vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Phần thứ hai
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
NHIỆM KỲ 2015 - 2020
Trong giai đoạn 2015 - 2020, Khánh Hòa cùng cả nước phát huy thành quả 30 năm đổi mới, tiếp tục hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực vừa thoát khỏi suy thoái, phục hồi đà tăng trưởng nhưng tốc độ phục hồi chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt các diễn biến ở biển Đông và sự chống phá của các thế lực thù địch sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có Khánh Hòa. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Khánh Hòa cũng có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, xã hội, con người; các nhà đầu tư lớn của nhiều quốc gia, tập đoàn kinh tế mạnh đã bắt đầu đầu tư, mở rộng trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Quy mô và tiềm lực kinh tế, an ninh, quốc phòng và đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong tỉnh được nâng cao hơn trước. Những kết quả trong chiến lược phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển 4 chương trình kinh tế - xã hội của tỉnh và đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định tạo ra những chuyển biến mới đối với sự phát triển của tỉnh.
I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU
1- Phương hướng chung
Nhanh chóng ổn định và phát triển nền kinh tế bền vững trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế; tăng cường huy động các nguồn vốn để tiếp tục đầu tư, phát huy hiệu quả 4 chương trình kinh tế - xã hội và 3 vùng kinh tế trọng điểm gắn với thực hiện Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; khai thác tiềm lực kinh tế biển một cách đồng bộ, hiệu quả. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; quan tâm phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ; đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế; bảo đảm hệ thống an sinh xã hội đa dạng, bao quát; tập trung giảm nghèo bền vững; tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên môi trường và chủ động ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên; xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; tăng cường và củng cố quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
2- Mục tiêu chủ yếu đến năm 2020
* Về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hàng năm 7,5 - 8,0%.
- GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.790 USD.
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ - du lịch, công nghiệp - xây dựng và nông, lâm, thủy sản.
- Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 đạt trên 2.000 triệu USD; xuất khẩu tăng bình quân hàng năm trên 10%.
- Thu ngân sách nhà nước năm 2020 gấp 1,7 lần so với năm 2015.
- Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GRDP bình quân hàng năm đạt 50%.
- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm 2016 - 2020 đạt trên 198 nghìn tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 12%.
* Về xã hội
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1,3 - 1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020.
- Số người lao động có việc làm tăng thêm bình quân mỗi năm là 15 nghìn người.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2020 đạt trên 60%.
- Đạt 8 bác sĩ và 32 giường bệnh trên 10.000 dân (không kể giường y tế xã).
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (cân nặng theo tuổi) dưới 9%.
- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến năm 2020 đạt trên 80%.
- Tỷ lệ dân số đô thị năm 2020 đạt 60%.
- 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.
* Về tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững
- Tỷ lệ che phủ rừng năm 2020 đạt từ 47,5% trở lên.
- Tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh năm 2020 đạt trên 95%.
- Phấn đấu 90% số cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường.
* Về xây dựng Đảng
- Phấn đấu hàng năm có trên 45% tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh, hạn chế thấp nhất số tổ chức cơ sở đảng yếu kém.
- Phấn đấu phát triển đảng viên mới hàng năm đạt từ 1.600 đồng chí trở lên, trong đó 55% trở lên trong độ tuổi thanh niên.
- Phấn đấu 50% doanh nghiệp đã thành lập công đoàn cơ sở có chi bộ hoặc đảng viên.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả 4 chương trình kinh tế - xã hội, phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm và Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị; xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa sớm đạt tiêu chí đô thị trực thuộc Trung ương
Về chương trình kinh tế - xã hội:
- Chương trình xây dựng nông thôn mới: Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới. Kiện toàn, nâng cao năng lực ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và bộ phận giúp việc các cấp, thúc đẩy tiến độ xây dựng nông thôn mới; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chương trình trên địa bàn nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí đầu tư; tập trung phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu trực tiếp phục vụ sản xuất và đời sống người dân; ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất; hỗ trợ phát triển các mô hình sản xuất có hiệu quả, tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân; tiếp tục giữ vững và nâng cao mức độ đạt chuẩn tiêu chí đối với các xã đạt chuẩn nông thôn mới nhằm nâng cao diện mạo nông thôn Khánh Hòa so với khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.
- Chương trình phát triển đô thị: Tập trung công tác quy hoạch, trong đó bổ sung quy hoạch cấp nước, thoát nước thải đối với các địa phương chưa có quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị - hành chính của tỉnh để sớm đưa vào sử dụng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; tập trung hoàn thiện các tiêu chuẩn theo quy định về điều kiện kinh tế - xã hội và hạ tầng kỹ thuật, làm cơ sở để nâng cấp quản lý toàn huyện Diên Khánh và huyện Vạn Ninh thành thị xã vào năm 2017 - 2018; hoàn thành Đề án chia tách thị xã Ninh Hòa thành 2 đơn vị hành chính cấp huyện; hoàn thành và đưa vào vận hành các bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và các nghĩa trang xây dựng mới… để đáp ứng các tiêu chí về môi trường, đảm bảo phát triển bền vững. Tiếp tục rà soát các quy định, chính sách về đầu tư, kinh doanh để kiến nghị sửa đổi các nội dung không đồng bộ, các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh (nếu có) thuộc lĩnh vực phát triển đô thị; cụ thể hóa các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực: phát triển đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật, phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập thấp; xây dựng công trình phúc lợi, nhà ở phục vụ người lao động làm việc ở các khu công nghiệp.
- Chương trình phát triển nguồn nhân lực: Tập trung thực hiện các giải pháp có hiệu quả, chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn theo quy định đối với cán bộ trong hệ thống chính trị từ cấp xã đến cấp tỉnh. Có các chính sách phù hợp và làm đầu mối thống nhất quy chế phối hợp, liên kết giữa các trường, viện, các địa phương trong vùng; mở rộng liên kết với các đối tác nước ngoài; đồng thời tạo điều kiện để các trường, viện gắn bó, đồng hành với doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học - công nghệ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xuất khẩu lao động, đặc biệt ở các thị trường có yêu cầu lao động chất lượng cao.
- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động, gắn kết với việc xây dựng, tập huấn kỹ thuật, nhân rộng mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả để nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, ý thức trách nhiệm của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc tham gia thực hiện chương trình, chính sách trên địa bàn miền núi. Xác định cơ cấu, lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp với năng lực nhận thức của đồng bào và thế mạnh của từng địa phương. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng đội ngũ khuyến nông viên, cộng tác viên khuyến nông; các nhóm cơ quan, đơn vị giúp đỡ xã miền núi tích cực hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào phương tiện phục vụ cho phát triển sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp, kỹ năng, phương pháp, ứng dụng các mô hình phát triển sản xuất. Tập trung nguồn lực ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình giao thông gắn kết với vùng sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm.
Về phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm:
- Phát triển khu vực vịnh Cam Ranh: Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án đầu tư trong và ngoài ngân sách; nâng cấp nhà ga và hoàn thành đường cất hạ cánh số 2 sân bay quốc tế Cam Ranh; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn sản xuất, kinh doanh; tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự đối với các dự án, doanh nghiệp trong khu vực vịnh Cam Ranh, chú ý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; phối hợp với bộ, ngành Trung ương triển khai xây dựng Dự án dịch vụ hàng hải, sửa chữa, đóng mới tàu biển và công trình dầu khí Cam Ranh; phát triển Cảng biển Cam Ranh; phối hợp với Vùng 4 Hải Quân xác định ranh giới vùng đệm hạn chế phát triển kinh tế (bao gồm trên mặt biển lẫn đất liền) làm cơ sở để quy hoạch, phát triển lâu dài; phát triển đánh bắt hải sản xa bờ, xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá khu vực Nam trung bộ tại Cam Ranh; triển khai xây dựng Khu đô thị ven vịnh Cam Ranh.
- Phát triển khu vực vịnh Vân Phong: Hoàn tất trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án Đặc khu Hành chính - Kinh tế Bắc Vân Phong; thu hút đầu tư đối với các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới có các ngành, nghề phù hợp với nhóm ngành ưu tiên phát triển trong Khu kinh tế; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, sớm giao đất sạch cho nhà đầu tư thực hiện dự án; hoàn thành các dự án hạ tầng giao thông, điện, nước... theo quy hoạch được phê duyệt.
- Phát triển thành phố Nha Trang: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án Khu đô thị - hành chính; triển khai hạ tầng Khu trung tâm đô thị Thương mại - Dịch vụ - Tài chính - Du lịch Nha Trang (sân bay Nha Trang); hoàn chỉnh đầu tư để triển khai việc chuyển đổi công năng Cảng Nha Trang thành Cảng phục vụ du lịch; di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm; hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai các dự án du lịch - dịch vụ, hạ tầng thương mại, khu đô thị, khu dân cư; từng bước hoàn chỉnh hạ tầng đồng bộ, hiện đại theo hướng mở rộng thành phố về phía Tây, phía Nam theo quy hoạch đã được phê duyệt, hình thành các khu đô thị mới đa chức năng phù hợp với yêu cầu phát triển thành phố Nha Trang trở thành một đô thị trung tâm, văn minh, hiện đại, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh và vùng duyên hải Nam Trung bộ.
Có kế hoạch chuyển đổi ngành, nghề tạo sinh kế mới cho lực lượng lao động ven biển của 3 vùng kinh tế.
Về Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị:
- Tập trung công tác quy hoạch xây dựng, đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị. Tập trung quy hoạch và xây dựng thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa, các thị trấn, các đô thị loại 5, các khu dân cư nông thôn theo hướng bảo đảm có đầy đủ và đồng bộ hệ thống giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, xử lý môi trường, phát triển bền vững.
- Hoàn thành Đề án điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Cam Ranh; củng cố hệ thống chính trị để phát triển toàn diện huyện Trường Sa góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Xây dựng và thực hiện Đề án phát triển huyện Trường Sa trên cơ sở hoàn thiện cơ cấu tổ chức hành chính, phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh theo hướng phát triển cơ sở cung ứng vật tư, kỹ thuật phục vụ khai thác hải sản xa bờ, đi biển dài ngày; từng bước mở rộng du lịch biển đảo và phát triển khu du lịch, điểm du lịch quốc gia tại Trường Sa.
- Xây dựng và hoàn thành Đề án tổng thể Đặc khu hành chính - kinh tế Bắc Vân Phong để phát triển nhanh Khu kinh tế Vân Phong trong thời gian tới.
2- Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển
Huy động mạnh mẽ các nguồn lực của xã hội, bảo đảm lợi ích hợp lý để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; dành vốn ngân sách Nhà nước tập trung hoàn thành các công trình chuyển tiếp, các dự án trọng điểm, bố trí vốn đối ứng… nhằm phát huy hiệu quả nguồn vốn và hoàn thiện kết cấu hạ tầng.
Tập trung xây dựng phát triển các ngành, sản phẩm lợi thế của tỉnh, có khả năng thu ngân sách cao như chế biến nông, lâm, thủy sản, nhiệt điện, vật liệu xây dựng, dệt may, đóng tàu, thuyền, lọc hóa dầu, sản xuất bia… Xúc tiến đầu tư, tập trung các dự án mới mang tính động lực cho sự phát triển; khuyến khích đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trong quy hoạch. Chú trọng phát triển ngành công nghiệp môi trường, đáp ứng nhu cầu công nghệ, thiết bị, sản phẩm và dịch vụ phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường.
Củng cố và phát triển hệ thống mạng lưới chợ, trung tâm thương mại, siêu thị tại trung tâm đô thị các thành phố, thị xã, thị trấn để trở thành các trung tâm giao dịch, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của tỉnh, huyện; phát triển thương mại điện tử; phát triển hệ thống chợ nông thôn. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 17,8%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tăng cường thực hiện công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Khai thác tối đa thế mạnh, mở rộng, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; tập trung phát triển các sản phẩm du lịch biển, đảo.
Triển khai thực hiện tốt Chiến lược xuất, nhập khẩu hàng hóa theo Quyết định số 950/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như thủy sản đông lạnh, đóng mới và sửa chữa tàu, thuyền, dệt may, thủ công mỹ nghệ; tăng tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng giá trị gia tăng cao; tích cực hoạt động xúc tiến thương mại nước ngoài để xuất khẩu các mặt hàng mới có tiềm năng. Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt trên 2 tỷ USD, tăng trưởng bình quân trên 10%/năm.
Tiếp tục tập trung, bổ sung nguồn vốn, thu hút các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội địa phương, triển khai có hiệu quả các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ. Tiếp tục phát triển dịch vụ vận tải, hàng không, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, hỗ trợ doanh nghiệp và kinh doanh, các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin… nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng quy mô sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao, thích nghi với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng; hướng dẫn thực hiện sản xuất theo tiêu chuẩn ViêtGAP trên các lĩnh vực nuôi trồng; mở rộng và nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy lợi; đẩy mạnh việc đưa giống mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất. Phát triển doanh nghiệp và kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp. Hình thành các vùng sản xuất lúa tập trung ở các vùng chủ động nước tưới, diện tích lúa sử dụng giống mới trên 80% để tạo ra sản lượng và chất lượng cao. Phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, chủ yếu là cây mía với quy mô hơn 18.000 ha; cây lâu năm, chủ yếu là cây xoài, sầu riêng. Tập trung khống chế dịch bệnh, hỗ trợ giống mới, hướng dẫn nông dân chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp, an toàn dịch bệnh, khuyến khích áp dụng công nghệ cao, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế biến để nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng trong chăn nuôi. Thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng; trong đó tập trung phát triển rừng sản xuất, khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Tiếp tục phát triển lực lượng đánh bắt xa bờ, phát triển các tàu có công suất lớn được trang bị phương tiện đánh bắt hiện đại; đầu tư hệ thống hậu cần dịch vụ trên biển như: hệ thống sơ chế, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, thông tin tìm kiếm cứu nạn…, góp phần phục vụ nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trên biển và vùng lãnh hải. Rà soát, quy hoạch lại các vùng nuôi; phát triển mạnh các loại hình nuôi trồng thủy sản trên biển, đảo, ven biển; quy hoạch, hình thành các vùng sản xuất giống tập trung, chất lượng cao, trước mắt tập trung triển khai hoàn thành và đưa vào khai thác cơ sở hạ tầng vùng kiểm định tôm giống Ninh Vân.
Tập trung đầu tư và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, như hệ thống thủy lợi, kênh mương, cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản; tiếp tục thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, cho vay ưu đãi cho các hộ nghèo từ ngân hàng chính sách xã hội, các chương trình khuyến nông, lâm ngư, dạy nghề… để giúp cho các hộ nghèo có vốn, kiến thức để tăng năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn.
Tổ chức thực hiện Kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng theo Chương trình hành động số 07-CTr/TU, ngày 27/7/2012 của Tỉnh ủy, trong đó định hướng và thực hiện các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng theo 4 chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tập trung đầu tư các dự án phát triển kết cấu hạ tầng: đô thị; khu kinh tế; khu, cụm công nghiệp, thương mại; giao thông, cấp điện, thủy lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu, thông tin; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; y tế; văn hóa, thể thao, du lịch. Xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đến năm 2020, trong đó nguồn vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm các chương trình bổ sung có mục tiêu của Trung ương) theo khả năng cân đối để ưu tiên đầu tư hoàn thành các công trình chuyển tiếp, công trình trọng điểm tạo sự đột phá và có tác động lan tỏa lớn.
3- Phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường ngày càng đáp ứng xu thế phát triển
Phấn đấu Khánh Hòa trở thành trung tâm giáo dục, nghiên cứu khoa học - công nghệ của khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thống nhất, đồng bộ trong giáo dục đạo đức học sinh. Đến năm 2020, có 66,6% số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. 100% trẻ 5 tuổi và 95% học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày; duy trì kết quả phổ cập trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Nâng cao tỷ lệ giáo viên trên chuẩn của mỗi cấp; 100% các trường lớp kiên cố hóa. Nâng cao chất lượng giáo dục các trường dân tộc nội trú. Hoàn thành xây dựng các cơ sở giáo dục trên địa bàn theo quy hoạch được phê duyệt; triển khai xây dựng, đưa vào hoạt động Trường Đại học Khánh Hòa. Thực hiện Luật Giáo dục nghề nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, gắn với triển khai rà soát, sắp xếp, quy hoạch mạng lưới, nâng cao năng lực các cơ sở giáo dục và giáo dục nghề nghiệp trong tỉnh phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển, chú trọng đào tạo có trọng điểm một số nghề là thế mạnh của tỉnh. Thu hút vốn đầu tư theo hình thức xã hội hóa để xây dựng các công trình giáo dục - đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Gắn kết hợp lý việc đào tạo và sử dụng lao động được đào tạo.
Từng bước hoàn thiện mạng lưới khám, chữa bệnh theo các tuyến kỹ thuật từ xã đến tỉnh, bảo đảm tính liên tục về cấp độ chuyên môn, khắc phục tình trạng quá tải bệnh viện tuyến tỉnh. Cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám, chữa bệnh cho người dân. Phát triển hạ tầng y tế để từng bước nâng cao chất lượng y tế ngang tầm với các thành phố lớn. Phấn đấu đạt 32 giường bệnh quốc lập và 8 bác sĩ trên 10.000 dân vào năm 2020. Tiếp tục nâng cao năng lực các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng; đến năm 2020, hoàn thành nâng cấp các trung tâm y tế dự phòng cấp huyện. Đầu tư các bệnh viện chuyên khoa bảo đảm trang, thiết bị và trình độ nghề nghiệp của bác sĩ và kỹ thuật viên y khoa. Nâng cao năng lực các cơ sở y tế chuyên sâu như: Bệnh viện đa khoa tỉnh, Bệnh viện Da liễu, Bệnh viện Lao và bệnh phổi, Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng, Bệnh viện Chuyên khoa Tâm thần… Đẩy mạnh xã hội hóa các cơ sở y tế, thu hút vốn đầu tư theo hình thức xã hội hóa để xây dựng các cơ sở y tế tư nhân; có cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích bác sĩ về công tác tại tỉnh Khánh Hòa. Từng bước có kế hoạch xây dựng, nâng cấp Trường Cao đẳng Y tế Khánh Hòa thành phân hiệu của các trường đại học y dược lớn của cả nước.
Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án phát triển khoa học - công nghệ; phát triển thị trường công nghệ thông qua cơ chế chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đầu tư trang, thiết bị hiện đại vào sản xuất; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kết hợp với các cơ sở nghiên cứu trong chuyển giao công nghệ và đào tạo… Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học như trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, trại thực nghiệm giống cây trồng, trạm công nghệ sinh học, giống nuôi trồng thủy sản.
Đổi mới tư duy trong công tác lãnh đạo, quản lý phát triển khoa học - công nghệ, xem đổi mới công nghệ là trọng tâm của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; theo đó, chuyển trọng tâm hoạt động khoa học - công nghệ về khu vực doanh nghiệp, khu vực sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy liên kết trực tiếp giữa khoa học - công nghệ với thị trường công nghệ. Quan tâm phát triển các công trình nghiên cứu thuộc ngành khoa học xã hội - nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Triển khai hiệu quả các văn bản luật liên quan nhiệm vụ bảo vệ môi trường; xây dựng Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2015-2025 và Kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 - 2020. Di dời khỏi khu dân cư và khắc phục tình trạng gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, nhất là các khu vực trọng điểm. Tăng cường công tác quản lý và sử dụng tài nguyên nước có hiệu quả, phân bổ tài nguyên nước hợp lý giữa các ngành, lĩnh vực và các địa phương; ưu tiên cấp nước sạch cho địa bàn nông thôn. Tăng cường công tác quản lý khai thác khoáng sản, hạn chế khai thác và xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô chưa qua chế biến. Tăng cường công tác quản lý đa dạng sinh học an toàn sinh học. Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn sự nghiệp môi trường; đa dạng hóa các loại hình truyền thông môi trường. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực công tác của cơ quan làm công tác bảo vệ môi trường trong toàn tỉnh. Tập trung quản lý, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến biển, đảo theo hướng đa ngành, đa mục tiêu; hạn chế phát sinh các mâu thuẫn giữa bảo vệ, bảo tồn với khai thác tài nguyên biển, tạo lập sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển, tăng cường năng lực và khả năng ứng phó sự cố môi trường, thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu. Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển - đảo và kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2015 - 2020 và định hướng đến 2030 phục vụ công tác quản lý biển, đảo bền vững.
4- Phát triển văn hóa - xã hội theo hướng bền vững, thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
Quan tâm đầu tư phát triển văn hóa - xã hội tương xứng với phát triển kinh tế. Huy động các nguồn lực để xây dựng, hoàn thiện, sử dụng hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh. Phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Tổ chức nhiều loại hình, chương trình biểu diễn văn hóa - nghệ thuật phong phú để phục vụ nhân dân và du khách, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân và phát triển du lịch.
Tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số như hỗ trợ nhà ở, vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề miễn phí, tập huấn chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ tiếp cận thông tin thị trường và tiêu thụ sản phẩm. Từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội, nhất là đối với đồng bào ở các xã miền núi trên địa bàn tỉnh; ban hành cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện xã hội hóa việc chăm sóc người cao tuổi.
Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình mục tiêu quốc gia khác. Tiếp tục thực hiện công tác giải quyết việc làm thông qua các chính sách như: hỗ trợ việc làm, cho vay giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động; thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động của tỉnh; nâng cao năng lực, hiệu quả các trung tâm dịch vụ việc làm.
5- Đảm bảo quốc phòng - an ninh, gắn phát triển kinh tế với xây dựng khu vực phòng thủ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh
Triển khai đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá từ bên trong.
Tập trung xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ theo Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (tiềm lực chính trị - tinh thần, tiềm lực kinh tế - xã hội, tiềm lực khoa học - công nghệ, tiềm lực quân sự - an ninh) nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tăng cường công tác bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền; giữ vững an ninh biên giới biển, đảo, tiếp tục thực hiện tốt Luật Biên giới quốc gia, Luật Biển Việt Nam… Thực hiện gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng - an ninh trong mọi tình huống, nhất là việc quy hoạch, thực hiện các dự án lớn và dự án có yếu tố nước ngoài. Tập trung xây dựng và phát triển huyện Trường Sa theo hướng hành chính hóa, dân sự hóa, góp phần cùng cả nước bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đẩy mạnh thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, tích cực tham gia đấu tranh, phòng, chống hiệu quả các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, xử lý, giải quyết đơn, thư, các vụ đình công, lãn công, khiếu kiện đông người, vượt cấp, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự ngay tại cơ sở.
6- Phát huy dân chủ, đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp
Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở ở các địa phương, cơ quan, doanh nghiệp; tiếp tục phát huy quyền dân chủ của Mặt trận, đoàn thể và nhân dân trong xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; tăng cường tổ chức tiếp xúc trực tiếp và đối thoại với nhân dân.
Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước. Hoàn thiện thể chế về tổ chức, hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; về quyền tham gia, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, nhất là trong việc ban hành, thực hiện các quy định, chính sách theo Hiến pháp và pháp luật. Đảm bảo mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính, sự phục vụ của cơ quan hành chính, các dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp. Thủ tục hành chính giữa các cơ quan nhà nước và trong nội bộ cơ quan nhà nước được cải cách căn bản, bộ máy hoạt động thông suốt, đồng bộ; nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn giúp việc được hoàn thiện, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, có cơ cấu tinh gọn, hoạt động thông suốt, đồng bộ, minh bạch. Thẩm quyền phạm vi kiểm tra giám sát của HĐND, điều hành của UBND mỗi cấp được phân định hợp lý, bảo đảm quản lý thống nhất, hiệu quả, giải quyết thủ tục hành chính nhanh nhất, phục vụ tốt nhất cho người dân và doanh nghiệp. Bảo đảm hầu hết các giao dịch của cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ hành chính công được cung cấp trực tuyến qua mạng Internet tối thiểu mức độ 4.
Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Tập trung củng cố tổ chức, bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, cán bộ bổ trợ tư pháp các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn với việc thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị; quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và các trang, thiết bị cần thiết từ ngân sách địa phương phục vụ công tác của cơ quan tư pháp các cấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Đẩy mạnh công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), Kết luận Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI); tập trung chỉ đạo xử lý nghiêm, dứt điểm những vụ, việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực được dư luận xã hội quan tâm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử và giải quyết tố cáo tham nhũng. Thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; phát hiện và xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với các vụ việc, vụ án tham nhũng. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị nêu cao trách nhiệm trong công tác phòng, chống tham nhũng ngay trong nội bộ, gắn với xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Huy động sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, cơ quan thông tin - truyền thông và của nhân dân đối với công tác này.
7- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể nhân dân
Tập trung xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân và hướng mạnh các hoạt động về cơ sở. Phát huy tinh thần sáng tạo và tự quản của nhân dân, gắn với triển khai tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, động viên toàn dân, phát huy tối đa các nguồn lực để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự địa phương.
Tổ chức thực hiện hiệu quả Quy định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 của Bộ Chính trị về quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị và Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong tham gia giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền theo Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI). Nâng cao năng lực và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội theo Kết luận số 62-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa X), đảm bảo thiết thực, hiệu quả, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương; đổi mới phong cách của cán bộ Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội theo hướng trọng dân, gần dân và có trách nhiệm với dân. Chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, hội viên, đoàn viên của Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp. Tăng cường phối hợp giữa Mặt trận với các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức liên quan để mở rộng công tác đối ngoại nhân dân, hoạt động đoàn kết hữu nghị, hợp tác và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong đầu tư phát triển kinh tế và các hoạt động an sinh xã hội tại địa phương.
8- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng; hoàn thiện hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, huy động sức mạnh toàn dân
Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; kịp thời tháo gỡ khó khăn nhằm phát huy thế mạnh của tỉnh, tạo động lực mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Trong đó trọng tâm là việc thực hiện các nhóm giải pháp của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và nâng cao kỹ năng ứng xử, trình độ quản lý của cán bộ các cấp.
- Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng
Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục theo hướng chú trọng tổ chức học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng gắn với thực tiễn công tác của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tích cực phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; chủ động, kịp thời ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), xem đây là việc làm thường xuyên của các tổ chức đảng, chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội. Kiên quyết đấu tranh, chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, cục bộ. Tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp.
- Về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt Đảng
Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng hệ thống các văn bản về đổi mới công tác cán bộ một cách đồng bộ, mạnh dạn có những giải pháp đột phá để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Bám sát tiến độ triển khai của Trung ương để tập trung hoàn thành các đề án còn lại về triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI).
Quan tâm công tác đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, công chức của tỉnh và xây dựng, tạo nguồn cán bộ, thực hiện chính sách thu hút nhân tài. Tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử, quy chế bổ nhiệm cán bộ; mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử. Xây dựng cơ chế, chính sách, bảo đảm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế kịp thời những người kém năng lực, không đủ uy tín. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực.
Rà soát chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội để tinh gọn, tránh trùng lắp, bỏ sót chức năng, nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.
Phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và cấp ủy các cấp; lãnh đạo chặt chẽ việc tổ chức thực hiện quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm.
Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW, ngày 30/3/2007 của Ban Bí thư gắn với việc tiếp tục củng cố, kiện toàn các tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X).
Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung những quy định, quy chế cho phù hợp, nhằm thực hiện tốt hơn nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị.
Tiếp tục thực hiện Đề án tăng cường trí thức trẻ về công tác tại các xã giai đoạn 2014 - 2020 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và hoàn thiện hệ thống chính trị cấp cơ sở, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, gắn với thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của tỉnh.
- Về cơ chế, chính sách
Tiếp tục hoàn thiện quy chế bổ nhiệm cán bộ, mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử. Xây dựng cơ chế bảo đảm phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài; thay thế kịp thời những người kém năng lực, không đủ uy tín, có khuyết điểm nghiêm trọng. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó chú trọng chất lượng, tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, việc tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, thực hiện những điều đảng viên không được làm; giám sát kết quả khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể, cá nhân trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI).
Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo “chủ động, chiến đấu, giáo dục và hiệu quả”. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện toàn diện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng, trọng tâm là nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; coi trọng chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra đảng, gắn với kiểm tra việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa.
III. KIẾN NGHỊ TRUNG ƯƠNG
1. Sớm chấp thuận phương án lựa chọn nhà đầu tư do tỉnh đề xuất trong Đề án Đặc khu Hành chính - Kinh tế Bắc Vân Phong, đồng thời tiến hành đàm phán với các nhà đầu tư để thống nhất cơ chế, chính sách đặc khu và tổ chức thực hiện.
2. Đề nghị các bộ, ngành Trung ương phối hợp với tỉnh triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 53-KL/TW của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
3. Để đảm bảo nguồn vốn đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ trong giai đoạn 2016 - 2020, nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển đô thị tỉnh Khánh Hòa, đề xuất Trung ương: Điều chỉnh tỷ lệ phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương hiện nay từ 23% - 77% thành 5% - 95% trong giai đoạn 2016 - 2020 và đầu tư lại cho địa phương 50% phần vượt thu từ thuế xuất, nhập khẩu dầu trung chuyển qua vịnh Vân Phong so với kế hoạch hàng năm được Trung ương giao, để xây dựng các dự án hạ tầng kỹ thuật trong Khu kinh tế Vân Phong.
* *
*
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII trong điều kiện vừa có thuận lợi nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa tin tưởng rằng, với tinh thần đồng tâm nhất trí, với ý chí cách mạng kiên cường, toàn Đảng bộ, toàn quân và toàn dân trong tỉnh tiếp tục phát huy tính năng động, sáng tạo, tận dụng thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, hăng hái thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XVII đề ra, lập nên những thành tích to lớn hơn nữa, quyết tâm xây dựng Khánh Hòa ngày càng giàu mạnh, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.




