Từ khi bắt đầu cắm những chiếc cọc xuống đất, nhân giống vẹm, vùng biển Ngọc Diêm đã không ngừng phát triển nghề nuôi vẹm xanh... Tôi phát hiện dòng nước ở đây như luôn ngả màu vàng phù sa. Trời cũng khéo tạo màu cho nước - và màu nước phù sa kia đã giúp cho người dân Ngọc Diêm một cách mưu sinh lạ: nuôi mà không tốn thức ăn. Chỉ hy vọng là thị trường không chông chênh như chiếc chòi canh giữa biển, để người dân Ngọc Diêm luôn có thể cười vui.
Từ khi bắt đầu cắm những chiếc cọc xuống đất, nhân giống vẹm, vùng biển Ngọc Diêm đã không ngừng phát triển nghề nuôi vẹm xanh... Tôi phát hiện dòng nước ở đây như luôn ngả màu vàng phù sa. Trời cũng khéo tạo màu cho nước - và màu nước phù sa kia đã giúp cho người dân Ngọc Diêm một cách mưu sinh lạ: nuôi mà không tốn thức ăn. Chỉ hy vọng là thị trường không chông chênh như chiếc chòi canh giữa biển, để người dân Ngọc Diêm luôn có thể cười vui.
|
| Thu hoạch vẹm. |
Anh Phạm Văn Ba dặn tôi ngồi bệt xuống chiếc vỉ tre lót dưới thuyền cho thuyền khỏi chòng chành. Nhưng tôi cũng chông chênh theo con thuyền tiến ra vùng biển nuôi vẹm xanh phía trước. Nước triều đang lên, tôi chỉ thấy lô nhô những cọc cắm dưới biển như trận Bạch Đằng năm xưa.
Thôn Ngọc Diêm, xã Ninh Ích, Ninh Hòa thuộc vào loại làng chài “cổ tích”. Anh Ba kể cho tôi nghe, ngày xưa, cả vùng đầm Nha Phu này biết cơ man nào là tôm cá. Người dân ở Ngọc Diêm chỉ dùng những chiếc thuyền chèo mỏng manh đi giăng lưới. Họ thu về nào là ghẹ, tôm tít, các loại cá. Biển cả đã trao tặng cho những người dân chài nghèo nhiều thứ, cho nên cuộc sống chẳng phải lo lắng áo cơm. Vùng biển Ngọc Diêm ở vùng vịnh lõm sâu, trước mặt làng đã trở thành một lòng chảo, còn có 3 hòn đảo ngoài khơi là núi Cả, hòn Lăn và núi Bé như lá chắn cho người dân chài khỏi bị những cơn bão tố. Nhưng rồi biển cạn dần tôm cá, bởi người đông, việc bảo vệ môi trường không được tôn trọng, cuộc mưu sinh trở nên khó khăn hơn. Để rồi cả một thời gian dài có những chiếc thuyền sáng sớm cũng ra khơi, nhưng buổi chiều trở về trong lòng thuyền chỉ có vài con cá nhỏ. Nghề biển chẳng nuôi nổi người dân biển nữa, không hiếm người bỏ làng lang bạt tìm nghề khác mưu sinh.
Thế rồi nghề nuôi vẹm xanh xuất hiện.
Nghề nuôi vẹm xanh chỉ mới xuất hiện hơn ba năm nay, giống như “lộc trời cho” vì cả Khánh Hòa, chỉ ở Ngọc Diêm là phát triển mạnh nghề nuôi mà chẳng cho ăn, chẳng phải tạo ra con giống. Nói “nuôi” ở đây cho có vần có điệu, còn khi đến tận nơi mới thật sự kinh ngạc về con vẹm xanh. Nghề nuôi vẹm gần như là “trời cho”. Thật vậy, tôi đã đi rất nhiều nơi, lên rừng xuống biển viết về những con tôm, con cá, nhưng thấy không có con gì nuôi mà chẳng hề tốn giống, tốn thức ăn. Nuôi con vẹm không tốn giống, cũng chẳng tốn thức ăn, nhưng sản lượng thì không đơn giản như nghề lượm, bắt của ngư dân.
Anh Phạm Văn Ba là người đi đầu trong nghề nuôi vẹm. Trước tình trạng nguồn hải sản ven bờ đầm Nha Phu cạn kiệt, mà biết bao nhiêu làng chài luôn trông mong vào chiếc thuyền nhỏ ra biển kiếm sống, năm 2000, Viện Hải dương học Nha Trang phối hợp với Trung tâm Khuyến ngư tỉnh tiến hành thử nghiệm nuôi con vẹm xanh tại Ngọc Diêm và Tân Thành (cũng là một làng biển ở xã Ninh Ích)… Khi các cán bộ, kỹ sư đến làng khảo sát, tuyên truyền cách nuôi vẹm xanh, chẳng ai tin rằng nuôi con vẹm lại dễ đến thế. Bởi kinh nghiệm từ nuôi con tôm sú, tôm hùm cho đến nhiều loại khác quả thật chẳng đơn giản chút nào.
Anh Ba là người sống gắn bó với làng chài Ngọc Diêm từ nhỏ. Anh cũng đã xoay đủ nghề ngoài nghề biển, khi nghe chuyện con vẹm, anh đã cùng các anh Nguyễn Sảnh, Trương Chí Hiếu quyết định “thử thời vận” xem sao? Bởi nếu không đi đầu thì làm gì có người dám nuôi? Năm 2000, các anh bắt đầu với chỉ có 3,5 tạ vẹm giống do Viện Hải dương học cung cấp. Cách nuôi cũng thật lạ. Đợi khi nước triều rút xuống tận đáy, đem cọc gỗ ra cắm xuống lớp đất bùn của biển. Sau đó cột bao quanh cây bằng lưới nhặt mắt, bỏ vào trong đó vẹm giống. Vậy mà sau một thời gian, con vẹm bám vào thân cây, ăn phù du trong nước biển, lớn nhanh. Sau một năm, thu hoạch bán cho người tiêu thụ 20.000 đồng/kg. Một giá bán hoàn toàn bất ngờ bởi thịt vẹm xanh rất ngon.
Từ khi bắt đầu cắm những chiếc cọc xuống đất, nhân giống vẹm, vùng biển Ngọc Diêm đã không ngừng phát triển nghề nuôi vẹm xanh. Nếu những người nuôi đầu tiên phải gây giống, thì sau vụ mùa đầu tiên, cả vùng đã dày đặc giống vẹm con trôi nổi trong biển. Vụ mùa kế tiếp, mọi người bắt đầu tìm mặt nước nuôi. Cũng đơn giản là kiếm chỗ nước triều lên xuống, cắm cọc. Chỉ cắm cọc thôi, nhưng sau 10 tháng là con vẹm bám dày đặc quanh cây, chỉ việc thu hoạch mà bán. Cứ thế cho đến nay, cả Ngọc Diêm đã có trên 100 hộ nuôi vẹm, trên mặt biển chi chít cột là cột. Mùa năm nay đã thu được 40 tấn. Sau khi nghiên cứu, anh Ba thấy rằng cây gỗ chỉ giữ được con vẹm trong một mùa, anh lại nghĩ đến chuyện làm trụ xi măng. Thế là những chiếc trụ xi măng ra đời, và trụ xi măng cũng thu hoạch đầy vẹm xanh. Thay vì đi đặt mua trụ, anh đã tự mua xi măng về đúc với giá thành 14.000 đồng/cây. Một cách nuôi vẹm khác ở những nơi nước sâu không cắm cọc được là giăng lưới, thả vẹm giống vào cho vẹm sinh sôi nảy nở (tất nhiên vẫn không cần thức ăn).
Nghề nuôi vẹm hấp dẫn giống như con vẹm có sẵn trong biển. Cắm cọc là tạo ra nhà cho con vẹm tìm về. Nhờ vậy, giờ đây ở Ngọc Diêm lại xuất hiện những tên tuổi mới. Anh Đặng Minh Quen có tới 2.000 trụ, anh chủ yếu thu con giống cung cấp cho các nơi khác; anh Lê Văn Trung lại có 100 trụ xi măng và 40 tấm lưới, và rất nhiều người khác nữa…
Khi tôi đến Ngọc Diêm, đi cùng anh Ba ra vùng nuôi vẹm thì giá vẹm đang dừng lại ở mức 7.000 đồng/kg. Đó là giá có ăn, khác với năm ngoái chỉ 5.000 đồng/kg mà chẳng ai mua. Con vẹm bán không được thì khoan thu hoạch. Anh Ba than thở: “Tụi tôi phải tự tìm đầu ra, có khi tôi trở thành người thu mua vẹm để bán cho các nhà hàng. Chỉ mong Nhà nước ngó vào giùm cái nghề này, tìm giùm nơi tiêu thụ”. Rồi nữa, do chẳng có HTX, cũng chẳng liên kết với nhau, nên nhiều khi gió giông, nhiều hộ sợ cột bị gãy hoặc đã bị gãy mục (cột gãy coi như con vẹm bỏ đi), thế là vội vàng thu hoạch, bán rẻ cho tư thương.
Tôi lắc lư cùng với chiếc chòi canh đêm của anh Đặng Minh Quen. Lều giữ vẹm xanh nhỏ xíu và chông chênh không như lều nuôi tôm hùm. Tôi phát hiện ra dòng nước ở đây như luôn ngả màu vàng phù sa. Trời cũng khéo tạo màu cho nước - và màu nước phù sa kia đã giúp cho người dân Ngọc Diêm một cách mưu sinh lạ: nuôi mà không tốn thức ăn. Chỉ hy vọng là thị trường không chông chênh như chiếc chòi canh giữa biển, để người dân Ngọc Diêm luôn có thể cười vui.
KHUÊ VIỆT TRƯỜNG




