Trong bối cảnh nhu cầu điện của Việt Nam tăng nhanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, các Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 sẽ giải quyết cùng lúc rất nhiều vấn đề cho lĩnh vực năng lượng. Giai đoạn 2030 - 2035, các nhà máy điện hạt nhân được định hướng vận hành với tổng công suất khoảng 4.000 đến 6.400 MW; đến năm 2050 tiếp tục xem xét bổ sung khoảng 8.000 MW.
Vì mục tiêu tăng trưởng hai con số
Điện năng là nền tảng hạ tầng quan trọng của tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, yêu cầu bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống càng trở nên cấp thiết. Trong giai đoạn 2011 - 2025, điện thương phẩm của Việt Nam đã tăng từ khoảng 85 tỷ kWh lên khoảng 287 tỷ kWh; công suất phụ tải cực đại của hệ thống điện quốc gia năm 2025 vượt 54 GW. Trong những năm tới, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, điện khí hóa giao thông, phát triển các ngành sản xuất công nghệ cao, trung tâm dữ liệu và các loại hình phụ tải mới.
![]() |
| Đường dây 500kV Vân Phong - Vĩnh Hảo. |
Theo Viện Năng lượng, Bộ Công Thương, trong kịch bản phụ tải cao, điện thương phẩm dự báo đạt khoảng 558 tỷ kWh vào năm 2030, 856 tỷ kWh vào năm 2035 và 1.375 tỷ kWh vào năm 2050; công suất phụ tải cực đại tương ứng khoảng 100 GW, 149 GW và 229 GW. Như vậy, chỉ trong khoảng 5 năm tới, phụ tải cực đại có thể tăng gần gấp đôi so với năm 2025 và đến năm 2050 tăng lên khoảng 4 lần. Quy mô tăng trưởng này đặt ra yêu cầu rất lớn đối với công tác quy hoạch phát triển nguồn điện, lưới điện và vận hành hệ thống. Song song với yêu cầu bảo đảm đủ điện, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26, điều này đặt hệ thống điện Việt Nam đồng thời phải đáp ứng yêu cầu mở rộng nhanh quy mô cung cấp điện và chuyển dịch sang cơ cấu nguồn phát thải thấp. Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân sẽ bổ sung một lớp nguồn có công suất lớn, phát thải carbon thấp và khả năng vận hành ổn định trong thời gian dài.
![]() |
| Ông Vũ Ngọc Minh - Phó Trưởng Ban Quản lý Đầu tư xây dựng Tập đoàn Điện lực Việt Nam trao đổi tại hội thảo về phát triển điện hạt nhân. |
Đảm bảo an toàn hệ thống lưới điện
Sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 174/2024/QH15 về việc tiếp tục thực hiện chủ trương đầu tư Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận, các công việc chuẩn bị đầu tư đã được khởi động trở lại và từng bước cụ thể hóa. Sau đó, Quốc hội tiếp tục ban hành Nghị quyết số 189/2025/QH15, quy định một số cơ chế, chính sách đặc biệt cho đầu tư xây dựng dự án điện hạt nhân. Tại Văn bản số 381 ngày 1-4-2025, Thủ tướng Chính phủ giao EVN làm chủ đầu tư Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng quốc gia Việt Nam (PVN) làm chủ đầu tư Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Tính đến tháng 9, cả hai dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và triển khai lập, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh, đồng thời rà soát, cập nhật các nội dung liên quan đến địa điểm, công nghệ, đấu nối hệ thống điện, thiết kế sơ bộ, môi trường, nguồn nhân lực, tiến độ và phương án đầu tư.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Dương - cán bộ Viện Năng lượng, Bộ Công Thương phát biểu tại hội thảo về phát triển điện hạt nhân. |
Ông Nguyễn Văn Dương - Viện Năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, với hệ số công suất tin cậy cao và khả năng vận hành nhiều giờ trong năm, điện hạt nhân có thể cung cấp đồng thời một lớp công suất tin cậy và sản lượng điện ổn định, bổ trợ cho sự phát triển mạnh của điện gió và điện mặt trời. Bên cạnh đóng góp về công suất và điện năng, các tổ máy điện hạt nhân sử dụng máy phát đồng bộ còn hỗ trợ quán tính, độ mạnh lưới và ổn định điện áp; đồng thời góp phần đa dạng hóa nguồn năng lượng sơ cấp, nâng cao an ninh năng lượng và sức chống chịu của hệ thống điện.
![]() |
| Vùng lõi Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 (xã Phước Dinh). |
Để điện hạt nhân phát triển đồng bộ, Viện Năng lượng, Bộ Công Thương kiến nghị các cơ quan chức năng kịp thời cập nhật các nghiên cứu quy hoạch, điều độ đầy đủ công suất, dự phòng, ổn định hệ thống và phương án đấu nối ngay sau khi công nghệ và công suất từng tổ máy được xác định; bảo đảm đồng bộ tiến độ giữa các nhà máy điện hạt nhân với lưới truyền tải, thủy điện tích năng và các nguồn dự phòng linh hoạt; nghiên cứu, hoàn thiện các yêu cầu kỹ thuật đối với đấu nối và vận hành tổ máy điện hạt nhân công suất lớn, bao gồm độ tin cậy nguồn điện ngoài nhà máy, điều tần, ổn định điện áp, bảo vệ và khả năng ứng phó sự cố mất nguồn lớn. Cuối cùng, cần sớm xây dựng và triển khai Chương trình phát triển điện hạt nhân quốc gia, đồng bộ với Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, gắn với định hướng dài hạn về quy mô, lộ trình, công nghệ, địa điểm, nguồn nhân lực, nhiên liệu, công nghiệp hỗ trợ, cơ quan pháp quy và năng lực quản lý toàn bộ vòng đời của dự án.
Đ.LÂM - V.GIANG - M.TRỰC









Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin