Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc Việt Nam, không chỉ giành lại nền độc lập từ tay thực dân, phát xít, mà còn đặt nền móng cho một nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một nền ngoại giao mới chính thức hình thành. Trải qua 81 năm xây dựng và phát triển (28-8-1945 - 28-8-2026), ngoại giao Việt Nam không ngừng kế thừa tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát triển các giá trị cốt lõi của ngoại giao cách mạng, thích ứng linh hoạt với những biến đổi nhanh chóng của tình hình khu vực và quốc tế.
![]() |
| Lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền được phát đi rộng rãi trong ngày 19-8-1945_Ảnh: Tư liệu |
Cách mạng Tháng Tám với sự hình thành nền ngoại giao Việt Nam
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đặt nền móng cho sự ra đời của một quốc gia - dân tộc hiện đại với đầy đủ tư cách pháp lý trong quan hệ quốc tế. Từ một nước thuộc địa không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam trở thành một chủ thể độc lập, có chủ quyền, sẵn sàng tham gia, đóng góp và kiến tạo trật tự quốc tế.
Cách mạng Tháng Tám khẳng định tư cách chủ thể quốc tế của một quốc gia độc lập
Trong quan hệ quốc tế hiện đại, tư cách chủ thể của một quốc gia - dân tộc không chỉ được xác lập thông qua sự ra đời của chính quyền quốc gia, mà còn cần được xác nhận về mặt pháp lý - chính trị bởi cộng đồng quốc tế. Theo luật pháp quốc tế, một chủ thể được công nhận đầy đủ cần hội đủ các yếu tố: Có lãnh thổ xác định, dân cư ổn định, chính quyền có hiệu lực và khả năng thiết lập quan hệ với các quốc gia khác (Montevideo Convention, 1933). Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo nên bước chuyển lịch sử để Việt Nam từ một xứ thuộc địa không có tư cách pháp lý, trở thành một quốc gia hội đủ các tiêu chuẩn nêu trên.
Ngay sau khi chính quyền cách mạng ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gấp rút tổ chức bộ máy nhà nước thống nhất, ban hành các văn bản chính trị - pháp lý để khẳng định chủ quyền quốc gia. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(1). Đây chính là hành vi pháp lý - chính trị thể hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, đồng thời là tuyên bố đầu tiên để khẳng định tư cách chủ thể quốc tế của Nhà nước mới.
Một minh chứng rõ ràng cho quyết tâm khẳng định tư cách chủ thể quốc tế là việc Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay trong tháng 9-1945 đã gửi công hàm ngoại giao và thư chính thức tới nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Chỉ trong hơn một năm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã gửi trên 150 công văn, thư và công hàm ngoại giao, tiếp xúc và làm việc với hơn 20 phái đoàn quốc tế đến từ các nước lớn như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Liên Xô, Ấn Độ… Đây là bằng chứng sinh động cho thấy năng lực hành động độc lập và sự chủ động hội nhập quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn non trẻ.
Việc thiết lập tư cách pháp lý của Việt Nam trong hệ thống quốc tế thời điểm đó là một tiến trình không dễ dàng, bởi nước ta không được mời tham dự các hội nghị quốc tế lớn như Yalta hay Potsdam. Tuy nhiên, nhờ vận dụng đúng đắn nguyên lý chính nghĩa dân tộc - dân chủ - tiến bộ, nền ngoại giao non trẻ của Việt Nam đã từng bước xác lập vị thế chủ thể quốc tế qua các cuộc đàm phán, thông cáo, công thư và tiếp xúc song phương. Đó là bước khởi đầu cho một nền ngoại giao “vì độc lập, vì chính nghĩa, vì quyền tự quyết”, đặt nền móng cho sự hình thành bản sắc đối ngoại của nước Việt Nam sau này.
Bản Tuyên ngôn Độc lập - Văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới
Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội là một văn kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn không chỉ đối với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn là tuyên bố ngoại giao chính thức đầu tiên của nước Việt Nam độc lập với thế giới. Văn kiện này mang đầy đủ các giá trị về chính trị, pháp lý và đối ngoại, thể hiện tư duy chiến lược và bản lĩnh ngoại giao của một dân tộc vừa giành lại chủ quyền sau gần một thế kỷ bị đô hộ.
Về mặt hình thức, bản Tuyên ngôn Độc lập mang cấu trúc và ngôn ngữ đặc trưng của một tuyên bố quốc tế, được chuẩn bị kỹ lưỡng và hướng tới cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các cường quốc có ảnh hưởng tới cục diện thời điểm đó ở Đông Dương. Với độ dài khoảng 1.000 từ, Tuyên ngôn Độc lập chia thành ba phần: (1) Nêu cơ sở lý luận về quyền độc lập, (2) Vạch trần tội ác của thực dân Pháp, và (3) Tuyên bố dứt khoát về chủ quyền và nền độc lập của Việt Nam.
Một điểm đặc biệt quan trọng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai văn kiện nền tảng của nhân loại hiện đại: Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (năm 1789). Câu mở đầu “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(2) đã cho thấy Người định vị cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy tư tưởng chính trị tiến bộ toàn cầu, đồng thời gửi thông điệp rõ ràng tới các quốc gia phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Pháp, rằng Việt Nam có đầy đủ cơ sở đạo lý và pháp lý để được công nhận nền độc lập.
Không dừng lại ở tính biểu tượng, Tuyên ngôn Độc lập còn là văn bản pháp lý tối cao, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc và thể hiện đầy đủ tư cách chủ thể quốc tế của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn này mang giá trị như một “tuyên bố chủ quyền quốc gia”, được ban hành đúng lúc, đúng thời điểm, khi trật tự quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang định hình. Đó là bước đi nhanh chóng, dứt khoát và chủ động trong việc giành thế chính danh trên trường quốc tế.
Sau sự kiện ngày 2-9-1945, bản Tuyên ngôn Độc lập được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh và gửi tới các cơ quan truyền thông quốc tế, các chính phủ và tổ chức nước ngoài. Chỉ trong vòng hai tuần sau lễ Tuyên ngôn, bản dịch tiếng Pháp đã được đăng trên báo L’Humanité, còn báo New York Times (ấn bản ngày 4-9-1945) cũng đăng tải thông tin về sự ra đời của nước Việt Nam mới với bài viết mang tiêu đề: “Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập cho Việt Nam”. Điều này cho thấy bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nhắm tới công chúng trong nước, mà còn là một thông điệp đối ngoại mang tầm vóc toàn cầu.
Tuyên ngôn Độc lập cũng là văn kiện mở đầu cho truyền thống ngoại giao chính nghĩa của Việt Nam. Thay vì dựa trên sức mạnh vũ lực, Việt Nam giành sự công nhận quốc tế thông qua lập luận dựa trên công lý, nhân đạo và lẽ phải. Cách tiếp cận này nhất quán với quan điểm đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, lấy chính nghĩa làm nền tảng, lấy đối thoại làm phương pháp, lấy quyền dân tộc và tiến bộ nhân loại làm cơ sở thuyết phục quốc tế.
Bên cạnh giá trị biểu tượng, Tuyên ngôn Độc lập còn đóng vai trò công cụ pháp lý để Việt Nam đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, đặc biệt là trong các cuộc đàm phán với Pháp từ cuối năm 1945 đến giữa năm 1946. Trong nhiều văn kiện ngoại giao gửi tới các nước và trong các bài phát biểu trước các đoàn quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh rằng Việt Nam đã độc lập, đã có Chính phủ, Hiến pháp và chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tất cả đều hợp pháp, hợp hiến và hợp lòng dân. Điều đó làm nổi bật một thực tế rằng bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố chính trị, mà còn là mốc khởi đầu của nền ngoại giao hiện đại, với cách tiếp cận có hệ thống, thuyết phục và nhắm đến tính chính danh quốc tế.
Chính vì vậy, có thể khẳng định, bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 là văn kiện đối ngoại đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại, là cột mốc lịch sử mở đầu cho nền ngoại giao chính nghĩa, tự chủ và nhân văn, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược về quốc tế, vừa đặt nền tảng pháp lý vững chắc cho các bước đi ngoại giao tiếp theo của nước ta. Trong tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, Chủ tịch Stalin, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc và nhiều tổ chức quốc tế để thông báo sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới, đồng thời đề nghị công nhận nền độc lập. Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao, một trong những thiết chế đầu tiên được thành lập, đã nhanh chóng triển khai hoạt động đối ngoại ở cả phương diện song phương và đa phương. Chỉ trong sáu tháng đầu sau ngày độc lập, Việt Nam đã gửi hơn 150 công hàm, thư và tuyên bố chính thức đến các nước và tổ chức quốc tế; đồng thời, tiếp đón hơn 20 đoàn báo chí, quan sát viên nước ngoài đến thăm và đưa tin về tình hình chính trị - xã hội trong nước. Nhiều bài viết trên tờ New York Times, L’Humanité, The Times, Pravda... đã góp phần xây dựng hình ảnh một quốc gia mới có chính nghĩa, yêu chuộng hòa bình và đang nỗ lực khẳng định vị trí trên trường quốc tế.
Trong số các hoạt động đối ngoại đầu tiên, việc ký Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 là thắng lợi ngoại giao đặc biệt quan trọng. Văn kiện này buộc Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, có chính phủ, quân đội và tài chính riêng. Đồng thời, tạo điều kiện để Việt Nam tranh thủ thời gian củng cố lực lượng và chuẩn bị cho những bước đi tiếp theo, trong khi vẫn duy trì hòa bình, tránh xung đột vũ trang trong giai đoạn chưa có lợi. Tiếp đó, Tạm ước ngày 14-9-1946, được ký tại Paris sau gần 4 tháng đàm phán, tiếp tục thể hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo, kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt sách lược. Dù những văn kiện này chưa thể mang lại công nhận quốc tế đầy đủ cho Việt Nam, nhưng đã giúp giữ vững thế chính trị trong nước, củng cố vị thế và tranh thủ sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế.
Giá trị cốt lõi của nền ngoại giao cách mạng và sự phát triển nhất quán qua các thời kỳ
Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, bắt nguồn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mang đậm dấu ấn cách mạng, dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ buổi đầu, những giá trị cốt lõi đã hình thành và trở thành nền tảng xuyên suốt mọi thời kỳ phát triển: Độc lập, tự chủ; vì lợi ích quốc gia - dân tộc; chính nghĩa, nhân văn; mềm dẻo nhưng kiên định về nguyên tắc; đa phương hóa, đa dạng hóa; vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Các giá trị này không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại, mà còn là tài sản lý luận, thực tiễn đặc sắc của ngoại giao Việt Nam.
Thứ nhất, kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Việt Nam đã khẳng định tư cách của một quốc gia có chủ quyền. Trong suốt các cuộc chiến tranh giữ nước và thời kỳ hội nhập, nguyên tắc này luôn được giữ vững. Đặc biệt, đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới được Đại hội VI của Đảng (năm 1986) và các đại hội Đảng sau đó xác định rõ: “Độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hợp tác quốc tế”(3). Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng không lệ thuộc; mở rộng quan hệ nhưng luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Thứ hai, kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đề cao tính “dĩ bất biến, ứng vạn biến” - một trong những nét đặc sắc của ngoại giao cách mạng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Việt Nam đồng thời đàm phán với nhiều bên để kéo dài thời gian chuẩn bị. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Việt Nam vẫn giữ quan hệ tốt với cả Liên Xô và Trung Quốc, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ từ các nước không liên kết và các phong trào giải phóng dân tộc. Từ sau đổi mới, đối ngoại Việt Nam đã “chuyển thế phòng thủ sang chủ động tiến công”, thể hiện qua việc gia nhập ASEAN (năm 1995), WTO (năm 2007), tham gia Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009, 2020 - 2021)...
Thứ ba, đa phương hóa, đa dạng hóa, làm bạn với tất cả các nước. Đây là một trong những trụ cột chiến lược hình thành từ tư tưởng Hồ Chí Minh và được thể chế hóa từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay. Đường lối đối ngoại “làm bạn với tất cả các nước dân chủ”, không phân biệt ý thức hệ, nhằm tạo thế đan xen lợi ích, mở rộng không gian chiến lược, hạn chế xung đột. Đến hết năm 2024, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 33 đối tác chiến lược và toàn diện, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương và đa phương, là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, ASEM, CPTPP, RCEP.
Thứ tư, chính nghĩa, nhân văn, vì hòa bình và phát triển. Ngoại giao Việt Nam luôn lấy chính nghĩa làm "sức mạnh mềm". Ngay từ năm 1945, việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp không chỉ thể hiện tư duy toàn cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn gửi đi thông điệp về một quốc gia yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, tôn trọng quyền con người. Trong các vấn đề quốc tế như Biển Đông, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, nước sạch, năng lượng..., Việt Nam kiên trì lập trường dựa trên luật pháp quốc tế, đề cao hợp tác và giải pháp hòa bình. Theo Báo cáo Chỉ số quyền lực mềm toàn cầu 2023, Việt Nam xếp hạng 47/121 quốc gia, tăng 6 bậc so với năm 2022, trong đó điểm số về “hòa bình” và “tin cậy quốc tế” ở nhóm cao của khu vực.
![]() |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp đại sứ, đại biện các nước ASEAN tại Hà Nội_Ảnh: TTXVN |
Phát huy giá trị ngoại giao cách mạng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Qua hơn 80 năm xây dựng và phát triển, nền ngoại giao Việt Nam đã chứng minh sức sống bền bỉ và bản lĩnh chính trị kiên cường. Những giá trị cốt lõi được hình thành từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tiếp tục được kế thừa, phát triển và thích ứng linh hoạt trong bối cảnh mới. Đó là một nền ngoại giao mang bản sắc riêng, vừa cách mạng, vừa hiện đại; vừa mềm dẻo, vừa kiên cường; vừa nhân văn, vừa thực chất, xứng đáng là một trụ cột quan trọng trong thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng sức mạnh tổng hợp của thời đại.
Một là, kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả. Đây là nguyên tắc bất biến trong điều kiện biến động, là “ngọn cờ tư tưởng” của ngoại giao Việt Nam hiện nay. Đảng ta xác định: Kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ về đường lối đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Việt Nam không chọn phe, không lệ thuộc, kiên trì “bốn không” trong quốc phòng và đối ngoại, đồng thời tích cực tham gia các sáng kiến toàn cầu, đảm nhiệm các trọng trách quốc tế như Chủ tịch ASEAN 2020, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (2023 - 2025), Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2020 - 2021)...
Hai là, phát huy thế mạnh ngoại giao toàn diện, gồm ngoại giao Nhà nước, Đảng, nhân dân, nghị viện, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, khoa học và chuyển đổi số. Ngoại giao Việt Nam đang được tổ chức lại theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, đồng bộ và chiến lược, “ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc Việt Nam”. Đến hết năm 2024, Việt Nam có 94 cơ quan đại diện ở nước ngoài; 80/94 cơ quan đã số hóa và vận hành nền tảng thông tin đối ngoại điện tử tích hợp. Đối ngoại kinh tế ngày càng trở thành mũi nhọn trong xúc tiến đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP…
Ba là, vận dụng tư duy ngoại giao Hồ Chí Minh để thích ứng với những chuyển động nhanh, đa chiều của thế giới hiện đại. Tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” ngày càng có giá trị trong kỷ nguyên mới. Ngoại giao phải đủ linh hoạt để bảo vệ lợi ích trước cạnh tranh nước lớn, đồng thời thúc đẩy hội nhập kinh tế xanh, kinh tế số, an ninh mạng, an ninh con người. Trong báo cáo Chỉ số kết nối toàn cầu (DHL Global Connectedness Index 2023), Việt Nam xếp thứ 44/181 quốc gia, tăng 5 bậc so với 2022, đặc biệt nổi bật về kết nối thương mại và đầu tư. Những tiến bộ này đều có sự đóng góp của ngoại giao trong việc ký kết các khuôn khổ hợp tác mới như Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với nhóm G7+, hay hợp tác chuyển đổi số với Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc, Singapore…
Bốn là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực và tư duy ngoại giao chiến lược, có khả năng tư duy đa phương, toàn cầu và thích ứng số. Ngoại giao thời đại mới không chỉ có kiến thức lịch sử, văn hóa, pháp lý, chính trị, mà còn đòi hỏi kỹ năng dự báo, xây dựng kịch bản, điều phối liên ngành và công nghệ số. Đổi mới tư duy đối ngoại không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là yêu cầu chính trị, chiến lược để bảo đảm lợi ích dân tộc trong thế giới đầy cạnh tranh và rủi ro.
Trong suốt 81 năm qua, ngoại giao Việt Nam luôn trung thành với những giá trị cốt lõi do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khởi xướng. Những nguyên lý đó đã giúp Việt Nam thích ứng thành công trước nhiều biến động của thời đại, từ chiến tranh đến hòa bình, từ bao vây cấm vận đến hội nhập toàn diện, từ khu vực đến toàn cầu. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thời đại của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến động địa chính trị và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, yêu cầu phát huy và phát triển các giá trị ngoại giao cách mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Ngoại giao không chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích, mà cần tiếp tục là lực lượng tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, tạo dựng thế và lực mới cho quốc gia, góp phần đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
TS Đào Ngọc Báu
Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
----------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.3
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 1
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 325
Theo tapchicongsan.org.vn
Nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1281102/cach-mang-thang-tam-voi-su-hinh-thanh-nen-ngoai-giao-viet-nam-va-nhung-gia-tri-can-tiep-tuc-phat-huy-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc.aspx







Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin