18:28, 30/10/2026

Tăng trưởng kinh tế phải gắn với chất lượng và đời sống người dân

TRÍ NGHĨA

Chiều 30-10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Trả lời phỏng vấn trên Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa, đồng chí Lê Hữu Trí - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh cho rằng, cần chuyển mạnh từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng trong nước; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện thực chất đời sống Nhân dân.

Đồng chí Lê Hữu Trí phát biểu thảo luận tại hội trường Kỳ họp Quốc hội.
Đồng chí Lê Hữu Trí phát biểu thảo luận tại hội trường kỳ họp Quốc hội.

- Đồng chí đánh giá như thế nào về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và áp lực đối với nền kinh tế trong nước vẫn hiện hữu?

- Tôi cơ bản thống nhất với báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và nhiệm vụ năm 2027. Có thể thấy, trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, áp lực lạm phát, chi phí năng lượng và những bất ổn trong thương mại quốc tế tiếp tục tác động đến nền kinh tế, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành và đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng được duy trì ở mức cao, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh, nhiều công trình hạ tầng quan trọng quốc gia được triển khai. Đây là những kết quả rất đáng trân trọng.

Tuy nhiên, khi đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, theo tôi, cần nhìn nhận vấn đề toàn diện hơn. Không chỉ quan tâm nền kinh tế tăng trưởng bao nhiêu phần trăm, mà phải làm rõ tăng trưởng đến từ đâu, chất lượng như thế nào, có bền vững hay không và thành quả đó được chuyển hóa thành thu nhập, việc làm, năng lực cạnh tranh và chất lượng cuộc sống của người dân ra sao.

- Theo báo cáo thẩm tra, GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01%. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Đồng chí nhìn nhận như thế nào về tính khả thi của mục tiêu này?

- Kết quả tăng trưởng 9 tháng năm 2026 là rất tích cực, thể hiện sự nỗ lực lớn của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, mức tăng trưởng khoảng 12,5% trong quý IV là một thách thức rất lớn.

Tôi cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao cần đi liền với những luận chứng đầy đủ về nguồn lực, năng lực hấp thụ vốn và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Không thể chỉ dựa vào quyết tâm chính trị hay các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng trong những tháng cuối năm, mà cần đánh giá thực chất các điều kiện bảo đảm thực hiện.

Đặc biệt, cần phân tích rõ mức độ đóng góp của từng động lực tăng trưởng, từ tiêu dùng trong nước, đầu tư công, đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài đến xuất khẩu và năng suất lao động. Qua đó, xác định động lực nào đang thực sự dẫn dắt tăng trưởng, động lực nào còn yếu, còn dư địa và cần những chính sách gì để khơi thông.

Theo tôi, điều quan trọng là phải bảo đảm tăng trưởng thực chất, có nền tảng và khả năng duy trì trong dài hạn, tránh chạy theo chỉ tiêu trước mắt mà xem nhẹ chất lượng và hiệu quả phát triển.

- Một trong những vấn đề được đồng chí nhấn mạnh là phải chuyển từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước. Vì sao đây được xem là yêu cầu quan trọng đối với nền kinh tế hiện nay?

- Những kết quả về xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài thời gian qua rất đáng ghi nhận. Theo báo cáo, xuất khẩu 9 tháng năm 2026 tăng 24,5%, vốn FDI thực hiện đạt 21,1 tỷ USD, tăng 12,1%. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm không chỉ là tốc độ tăng xuất khẩu hay quy mô vốn đầu tư, mà phải đánh giá sâu hơn hiệu quả và mức độ lan tỏa của những nguồn lực này đối với nền kinh tế trong nước.

Chẳng hạn, xuất khẩu tăng nhanh nhưng phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam là bao nhiêu? Doanh nghiệp trong nước tham gia được đến đâu trong chuỗi cung ứng? Năng suất lao động, trình độ công nghệ và thu nhập của người lao động được cải thiện như thế nào?

Nếu sản xuất và xuất khẩu tăng nhưng phần lớn nguyên liệu, linh kiện và công nghệ vẫn phụ thuộc vào bên ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng thấp thì khả năng lan tỏa của tăng trưởng sẽ còn hạn chế. Khi thị trường thế giới biến động, chuỗi cung ứng bị gián đoạn hoặc đối tác thay đổi chính sách thương mại, nền kinh tế sẽ dễ bị tổn thương.

Vì vậy, cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao giá trị gia tăng trong nước. Muốn vậy, phải có giải pháp cụ thể để nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa hợp lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp FDI liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam, thay vì chỉ đánh giá hiệu quả thu hút đầu tư thông qua tổng vốn đăng ký hoặc vốn giải ngân. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước cũng cần được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng hơn với đất đai, vốn, công nghệ và cơ hội tham gia các dự án lớn; giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ vướng mắc pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

- Bên cạnh việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư cũng là vấn đề được đặt ra. Theo đồng chí, cần có những giải pháp gì để khơi thông nguồn lực cho phát triển nhưng vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô?

- Đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài đều có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là huy động được bao nhiêu vốn, mà còn là đồng vốn đó được sử dụng như thế nào, có tạo ra hiệu quả thực chất hay không.

Theo Báo cáo thẩm tra, giải ngân vốn đầu tư công 9 tháng năm 2026 đạt 62,9% kế hoạch; số vốn tạm ứng chưa thu hồi lên tới 237,2 nghìn tỷ đồng. Những con số này đặt ra yêu cầu phải đánh giá thực chất hơn chất lượng giải ngân, tiến độ hoàn thành các dự án và khả năng chuyển hóa vốn đầu tư thành năng lực sản xuất, hạ tầng và dịch vụ công.

Bên cạnh đó, để duy trì tăng trưởng cao và bền vững, nền kinh tế cần nguồn vốn trung và dài hạn cho sản xuất, công nghệ, năng lượng, logistics và phát triển hạ tầng. Trong khi đó, sự phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, áp lực lãi suất và những hạn chế của thị trường vốn có thể làm tăng chi phí đầu tư, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Do đó, cần phát triển thực chất thị trường vốn, nâng cao tính minh bạch và kỷ luật của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Cùng với đó, phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và rủi ro trong những lĩnh vực có mức độ liên thông cao như ngân hàng, trái phiếu và bất động sản.

Theo tôi, tăng trưởng nhanh nhưng sử dụng vốn kém hiệu quả, chi phí vốn cao, rủi ro tài chính tích tụ hoặc thiếu năng lượng phục vụ sản xuất thì không thể xem là tăng trưởng bền vững. Khơi thông nguồn lực phải đi đôi với nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

- Có ý kiến cho rằng, thước đo cuối cùng của tăng trưởng kinh tế phải là sự cải thiện đời sống người dân. Đồng chí có đồng tình với quan điểm này? Cần chú trọng những vấn đề gì để người dân thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển?

- Tôi hoàn toàn đồng tình. Tăng trưởng kinh tế cuối cùng phải tạo ra việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn, cơ hội phát triển rộng hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người dân.

Nếu GDP tăng cao nhưng nhiều gia đình vẫn chịu áp lực về chi phí sinh hoạt, người lao động khó mua hoặc thuê nhà, người trẻ thiếu cơ hội việc làm ổn định thì cần nhìn nhận lại mức độ lan tỏa của tăng trưởng.

Theo báo cáo, CPI bình quân 9 tháng năm 2026 ước tăng 4,52%. Mức tăng này cơ bản bám sát mục tiêu điều hành, nhưng tác động của biến động giá cả đối với từng nhóm dân cư không giống nhau. Người có thu nhập thấp thường phải dành phần lớn thu nhập cho các nhu cầu thiết yếu như thực phẩm, nhà ở, điện nước, đi lại, học hành và khám, chữa bệnh nên dễ bị tổn thương hơn khi giá cả tăng.

Vì vậy, cần đánh giá đầy đủ hơn tác động của tăng trưởng và lạm phát đến thu nhập thực tế của từng nhóm dân cư; có giải pháp kiểm soát giá hàng hóa thiết yếu, nâng cao năng suất lao động và tạo điều kiện để tiền lương tăng dựa trên năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Tôi cho rằng, mục tiêu của chúng ta không đơn thuần là đạt được một con số tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh, có khả năng tự chủ, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng lớn và bảo đảm người dân được thụ hưởng thực chất thành quả phát triển.

Đó mới là nền tảng để Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng vẫn bền vững, nâng cao năng lực nội sinh và tiến gần hơn đến mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

TRÍ NGHĨA (Thực hiện)