Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho đồng bào miền Nam tình cảm đặc biệt sâu nặng, trong đó có Khánh Hòa. Người theo dõi, động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân Khánh Hòa qua từng chặng đường cách mạng. Đáp lại tình cảm ấy, cán bộ, đảng viên và Nhân dân Khánh Hòa một lòng kính yêu Bác, khắc ghi lời Người dạy, biến tình cảm thành hành động trong chiến đấu cũng như trong xây dựng quê hương.
Người luôn dõi theo Khánh Hòa
Theo các tài liệu lịch sử, Bác quan tâm đến phong trào cách mạng ở Khánh Hòa từ rất sớm. Trong bài “Phong trào cách mạng ở Đông Dương” viết ngày 20-9-1930 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3), Người đã nhắc đến cuộc biểu tình của khoảng 1.000 nông dân Ninh Hòa. Sau ngày đất nước giành độc lập, Bác thường xuyên dõi theo phong trào kháng chiến chống Pháp ở Khánh Hòa. Ngày 23-10-1945, quân và dân Khánh Hòa nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Trung Bộ. Chỉ ít ngày sau, trong Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ (đăng trên Báo Cứu quốc ngày 29-10-1945), Bác viết: “Ở Mỹ Tho, ở Tân An, ở Biên Hòa, Nha Trang, quân Pháp đã xâm phạm đến nền độc lập của chúng ta. Tâm trí tôi luôn luôn bên cạnh mấy triệu đồng bào quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ cho nền độc lập Việt Nam”. Ngày 22-12-1945, trong thư "Gửi các Chiến sĩ miền Nam" đăng trên Báo Cứu Quốc, Bác khen ngợi: “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi chiến sĩ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn”. Chỉ trong hai tháng, Người hai lần nhắc đến Nha Trang - Khánh Hòa.
![]() |
| Tượng đài tưởng niệm sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vịnh Cam Ranh vào ngày 18-10-1946. Ảnh: ĐẶNG TUẤN |
Đầu năm 1946, Bác cử đồng chí Võ Nguyên Giáp, khi ấy là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, vào nắm tình hình, chỉ đạo cuộc chiến đấu ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Qua đồng chí Võ Nguyên Giáp, lời thăm hỏi, khen ngợi của Bác đã đến với đồng bào, chiến sĩ mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa. Đặc biệt, ngày 18-10-1946, trên đường từ Pháp về nước, Bác dừng chân tại vịnh Cam Ranh và hội kiến với Cao ủy Pháp Georges Thierry d’Argenlieu. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất Bác trở lại miền Nam kể từ khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911. Sự kiện ấy để lại dấu ấn sâu đậm và trở thành niềm tự hào của Nhân dân Khánh Hòa.
Bác cũng luôn ghi nhận những tấm gương cán bộ, đảng viên của tỉnh có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, lao động sản xuất. Năm 1949, Người ký sắc lệnh tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho đồng chí Bửu Đóa, đội viên công an xung phong tỉnh Khánh Hòa, sau này được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1952, Bác viết bài khen ngợi nữ y tá Phạm Thị Tám, đăng trên Báo Nhân Dân: “Đồng chí Tám xứng đáng là một chiến sĩ thi đua toàn quốc, xứng đáng là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam”.
Tập sách “Bác Hồ trong lòng dân Khánh Hòa” ghi lại câu chuyện năm 1966, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (sau này là Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa) ra Hà Nội báo cáo tình hình cách mạng Khu V và chữa bệnh. Đồng chí được Bác tặng 3 củ sâm để bồi bổ sức khỏe, kèm tờ giấy đánh máy Bác hướng dẫn cách dùng sâm. Đồng chí kể: “Kỷ vật này không phải riêng cho cá nhân tôi, mà còn thể hiện tình cảm thiêng liêng của Bác Hồ với đồng bào miền Nam ruột thịt, như Bác thường nói "Miền Nam luôn trong trái tim tôi...".
Những kỷ niệm không bao giờ quên
Nhiều người con Khánh Hòa đã vinh dự được gặp Bác, được Bác ân cần dạy bảo. Hình ảnh vị lãnh tụ của dân tộc gần gũi, giản dị đã in sâu trong tâm trí cán bộ, Nhân dân Khánh Hòa.
Cố bác sĩ Kiều Xuân Cư từng kể, năm 1954, khi bị giam ở khám Chí Hòa (Sài Gòn), ông cùng các bạn tù đã cùng làm một tập san về Bác, ấp ủ ước mơ một ngày được dâng tặng Người. Sau này, tập kết ra Bắc, tuy di chuyển nhiều nơi nhưng ông vẫn giữ tập san này. Năm 1960, khi đang ở Hà Nội để học nghề y, ông đã gửi thư và tập san đến Bác Hồ kể về chuyện các cán bộ, chiến sĩ trong tù vẫn giữ vững khí tiết, một lòng hướng về Bác. Sau đó, ông được Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch dẫn đi gặp Bác. Cuộc gặp chỉ hơn 40 phút, nhưng ông nhớ mãi ánh mắt, nụ cười và lời dặn của Người: “Trước đây hoạt động trong lòng địch nên các cháu không có điều kiện để học tập, nay về miền Bắc cố gắng học tốt để phục vụ Nhân dân”. Suốt đời làm nghề y, ông luôn khắc ghi lời Bác dạy, luôn “thương yêu bệnh nhân như người nhà”.
Bà Phạm Bích Thuần (sinh năm 1941, hiện ở phường Nha Trang), nguyên diễn viên múa Đoàn Văn công Quân khu Tây Bắc, vẫn xúc động khi nhớ lần biểu diễn tại Phủ Chủ tịch trong dịp đón Tổng thống Indonesia Sukarno. Khi bà đang múa điệu múa dân tộc Thái, chiếc chén trên đầu rơi xuống sàn. Bác liền cúi nhặt và nói nhỏ: “Cháu cứ bình tĩnh mà múa, Bác cầm cái chén này cho cháu”. Kết thúc tiết mục, Bác bước lên sân khấu khen ngợi và trao lại chiếc chén. Sau này, khi bà chuyển về làm ở Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Bác vẫn nhận ra bà giữa đoàn người ra sân bay Gia Lâm đón khách quốc tế. Những kỷ niệm ấy theo bà suốt cuộc đời.
Ông Nguyễn Xuân Hải (sinh năm 1943, ở phường Nha Trang), học sinh miền Nam tập kết, ba lần được gặp Bác. Lần đầu năm 1959, khi ông đang học lớp 7, Người cùng Tổng thống Sukarno đến thăm Trại Bồ câu trắng tổ chức ở vườn Bách Thảo. “Trong mắt chúng tôi, Bác đẹp như một ông tiên, lại như người ông thân thương trong gia đình”, ông Hải nhớ lại.
Một lòng theo con đường Bác đã chọn
Suốt những năm chiến tranh, nhiều người dân Khánh Hòa vẫn một lòng hướng về Bác. Tập sách "Bác Hồ trong lòng dân Khánh Hòa" ghi lại chuyện bà Ba Thỏ (ở Diên An, nay thuộc xã Diên Khánh) luôn đeo sợi dây chuyền vàng có mặt lồng ảnh Bác Hồ trong suốt những năm chiến tranh. Ông Lê Sương (ở Diên Sơn, nay thuộc xã Diên Điền) cất giữ tờ giấy bạc có hình Bác suốt 30 năm kháng chiến. Bà Nguyễn Thị Trừ (ở Ninh Phú, nay thuộc phường Hòa Thắng) cất giữ lá cờ Tổ quốc và ảnh Bác từ năm 1946 cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng... Đầu tháng 9-1969, tin Bác qua đời để lại niềm tiếc thương vô hạn. Từ tỉnh đến xã, kể cả vùng địch kiểm soát và trong nhà lao, đều lập bàn thờ truy điệu Người. Ngày 10-9-1969, Tỉnh ủy tổ chức trọng thể lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Đồng chí Sáu Ngô - Phó Bí thư Tỉnh ủy đọc điếu văn và lời thề 6 điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh: Hiến dâng cả đời cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; học tập, rèn luyện đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà Bác đã dạy.
Biến đau thương thành hành động, cao trào diệt ác, phá kìm dấy lên khắp tỉnh. Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, cuối tháng 3-1975, quân và dân Khánh Hòa phối hợp với bộ đội chủ lực tiến công và nổi dậy giải phóng tỉnh nhà. Ngày 30-4-1975, đất nước thống nhất, lời thề trước anh linh Bác đã được thực hiện trọn vẹn.
![]() |
| Khu tưởng niệm Bác Hồ của gia đình ông Bùi Xuân Phước ở phường Nam Nha Trang. |
Từ năm 1975 đến nay, Đảng bộ và Nhân dân Khánh Hòa đoàn kết, năng động, sáng tạo, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Tưởng nhớ Bác, theo nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tỉnh đã đầu tư xây dựng Tượng đài Bác Hồ tại Công viên 18 tháng 10, phường Cam Ranh. Trên địa bàn tỉnh, nhiều phòng truyền thống, nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng. Tiêu biểu là Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh của cựu chiến binh Bùi Xuân Phước tại Tổ dân phố Phước Tân, phường Nam Nha Trang. Nơi đây trưng bày hơn 100 hình ảnh, hiện vật về Bác do ông Phước cất công sưu tầm. Mỗi lần thắp nén hương lên bàn thờ Bác, ai cũng xúc động, lòng trào dâng niềm kính trọng, yêu thương đối với Người.
80 năm đã qua kể từ ngày Bác Hồ đến vịnh Cam Ranh, hình ảnh Người vẫn vẹn nguyên trong lòng dân Khánh Hòa. Tình cảm ấy hôm nay tiếp tục được chuyển hóa thành hành động cụ thể: Học tập và thực hành theo Bác phải trở thành việc làm thường xuyên, thấm vào cách nghĩ, cách làm của mỗi cán bộ, đảng viên; đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, xây dựng Khánh Hòa phát triển nhanh, bền vững, hướng đến trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; xứng đáng với tình cảm và niềm tin yêu mà Bác đã dành cho Khánh Hòa.
X.T


![[Video] 80 năm theo dấu chân Người](/file/e7837c02857c8ca30185a8c39b582c03/102026/ca_20261016230330.jpg?width=500&height=-&type=resize)




Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin