00:25, 16/10/2026

Kỷ niệm 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vịnh Cam Ranh (18-10-1946 - 18-10-2026):
Từ chuyến thăm nước Pháp đến vịnh Cam Ranh

XUÂN THÀNH

Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đến vịnh Cam Ranh (18-10-1946 – 18-10-2026), Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa thực hiện loạt bài “Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946: Từ chuyến thăm nước Pháp đến vịnh Cam Ranh”. Loạt bài không chỉ nhìn lại chuyến thăm nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn đi sâu vào sự kiện Người đến vịnh Cam Ranh hội kiến với Cao ủy Pháp ở Đông Dương d’Argenlieu. Qua đó, làm nổi bật ý chí độc lập dân tộc, nghệ thuật ngoại giao khéo léo của Người, cũng như tình cảm sâu nặng mà Nhân dân Khánh Hòa dành cho vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Kỳ 1: Những ngày lịch sử ở nước Pháp

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách; đất nước đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Dù Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 đã được ký kết, phía Pháp vẫn âm mưu phá hoại nền hòa bình, độc lập của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lời mời sang thăm nước Pháp để tìm kiếm giải pháp hòa bình, bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng Thủ tướng Pháp Georges Bidault sau một lần hội đàm. Ảnh tư liệu

Lật giở những trang “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch - Bốn tháng sang Pháp” của tác giả Đ.H, chúng tôi như được theo chân Người trên chuyến đi đặc biệt mùa hè năm ấy. Ngày 31-5-1946, từ sân bay Gia Lâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường. Trải qua nhiều chặng bay dài với các điểm dừng chân ở  Myanmar, Ấn Độ, Pakistan, Iraq, Ai Cập, Libya, Algeria… mãi đến ngày 12-6-1946, Người mới đặt chân đến Biarritz, miền Nam nước Pháp. Biết tin Bác Hồ đến, kiều bào ở nhiều nơi trên đất Pháp đã tìm đến chào Bác, quyên tiền nhờ Bác chuyển về nước để giúp đỡ Tổ quốc vừa giành độc lập. Kiều bào ở Anh, Mỹ, Nouvelle Calédonie và khắp thế giới cũng “đều có gửi điện chúc mừng và tỏ lòng yêu mến Tổ quốc”. Những ngày trên đất Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giương cao ngọn cờ độc lập và thiện chí hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Tiếng nói của một dân tộc vừa giành độc lập

Nhật ký ghi lại, ngày 22-6-1946, Chính phủ Pháp tổ chức lễ đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris với sự có mặt của đại diện Chính phủ và các tướng lĩnh Pháp, cùng đại diện các đảng, đoàn thể và đông đảo kiều bào Việt Nam ở Pháp. Tác giả Đ.H tả lại: “Khắp xung quanh và trong nhà ga phi trường Le Bourget, treo nhiều cờ Việt Nam và cờ Pháp. Trên một đỉnh cột cờ cao nhất trước ga, phấp phới một lá cờ đỏ sao vàng. Đội quân danh dự cử bài quốc ca Việt và Pháp. Cụ chủ tịch và đại biểu Chính phủ Pháp đứng chào cờ, rồi đi duyệt binh”.

Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Marius Moutet - đại diện Chính phủ Pháp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân bay Le Bourget, Paris ngày 22-6-1946. Ảnh tư liệu

Đọc lại những dòng nhật ký, chúng tôi hình dung được tầm vóc của khoảnh khắc ấy. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó mới ra đời chưa đầy một năm. Đây là lần đầu tiên sau hơn 80 năm bị thực dân đô hộ, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam độc lập xuất hiện trên trường quốc tế với tư cách nguyên thủ của một quốc gia có chủ quyền. Mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi bài phát biểu của Bác vì thế không chỉ mang ý nghĩa ngoại giao, mà còn là lời khẳng định trước thế giới về sự tồn tại hợp pháp của nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Ngày 2-7-1946, Chính phủ Pháp mở tiệc chiêu đãi trọng thị đón Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại đây, Thủ tướng Chính phủ Pháp Georges Bidault đánh giá chuyến thăm của Hồ Chủ tịch “có ý nghĩa rất cao xa, làm cho tình thân thiện giữa hai nước chúng ta khăng khít lại”. Bác đáp từ giản dị mà sâu sắc: “Việt và Pháp là hai dân tộc tự do, bình đẳng, đều có lý tưởng dân chủ, đều ham muốn tự do… Chúng ta đều có chung một lý tưởng triết học phương Đông và phương Tây, đều theo một giáo dục chung: Mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho mình”.

Ít ngày sau, trò chuyện với các nhà báo Pháp và quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Việt Nam cần nước Pháp. Nước Pháp cũng cần Việt Nam. Chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác bình đẳng, thật thà, thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước”. Hôm sau, nhiều báo Pháp khen lời Hồ Chủ tịch “đứng đắn và chân thành”.

Những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp cũng là khi Hội nghị Fontainebleau đang diễn ra (đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn Việt Nam). Không tham gia trực tiếp cuộc đàm phán này, nhưng Người luôn giữ liên hệ và chỉ đạo đàm phán, với nguyên tắc không thể nhân nhượng là Pháp phải công nhận quyền tự do, tự quyết và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Mềm mỏng, nhưng không bao giờ nhân nhượng về chủ quyền. Xem phim tài liệu “Hồ Chí Minh: Bản lĩnh ngoại giao năm 1946” của VTV (phát sóng ngày 31-8-2026), chúng tôi lặng người trước một khoảnh khắc được nhật báo nổi tiếng Le Monde ngày 12-7-1946 thuật lại. Khi các phóng viên đặt câu hỏi: “Nếu Nam Kỳ từ chối là một phần của Việt Nam, ngài sẽ làm gì?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức khẳng định: “Nam Kỳ hoàn toàn là đất nước của Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi”. Người nhấn mạnh điều đó dựa trên những dữ liệu không thể chối cãi về dân tộc học, lịch sử và văn hóa.

Ngoại giao bằng sự chân thành

Trong gần 100 ngày trên đất Pháp (từ ngày 12-6-1946 đến 19-9-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có 400 cuộc gặp gỡ với các nhân vật trong Chính phủ, Quốc hội, các tổ chức, đoàn thể chính trị, xã hội, các nhà hoạt động văn hóa, khoa học, nghệ thuật nổi tiếng và kiều bào Việt Nam; tổ chức nhiều cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế nhằm nêu rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam, không muốn chiến tranh với Pháp. Qua các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cho thấy nỗ lực cao nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tìm kiếm giải pháp hòa bình cho dân tộc, thể hiện sự kiên định của Người với mục tiêu bảo vệ độc lập, bản lĩnh và linh hoạt trong đối thoại, đồng thời chủ động tìm kiếm sự đồng thuận, thiện chí từ những lực lượng yêu chuộng hòa bình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình ông
Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình ông Raymond Aubrac tháng 7-1946. Ảnh tư liệu

Nhật ký ghi lại Hồ Chủ tịch đã đến sống cùng gia đình ông Raymond Aubrac, người sau này hoạt động rất tích cực cho việc bảo vệ hòa bình của Việt Nam. Người còn gặp danh họa Picasso, một người bạn cũ quen từ đầu những năm 1920, khi Người viết báo Người cùng khổ với bút danh Nguyễn Ái Quốc. Người cũng gặp và trò chuyện với David Ben-Gurion, khi đó đang vận động cho độc lập của Israel, sau này là Thủ tướng đầu tiên của Israel. Điều tạo nên sức lan tỏa từ những cuộc gặp ấy không phải những diễn văn hùng biện hay nghi thức ngoại giao cầu kỳ, mà chính là phong cách gần gũi, giản dị và chân thành của Bác. 

Gặp gỡ kiều bào, Bác gần gũi như người nhà. Trong phim tài liệu “Hồ Chí Minh: Bản lĩnh ngoại giao năm 1946”, ông Nguyễn Văn Bổn, Chủ tịch danh dự Hội Người Việt Nam tại Pháp, kể lại: Ngày 15-7-1946, tại buổi gặp hơn 2.000 kiều bào ở Paris, Bác ân cần căn dặn đồng bào xa xứ mỗi người phải là “một đại sứ Việt Nam, đại diện cho một dân tộc đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập và tự do”. Bác mong mỗi kiều bào nỗ lực học tập, làm việc hết sức mình để về xây dựng nước nhà. Bác nói: “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết”.

Những trang nhật ký cuối chuyến đi trở nên nặng trĩu. Ngày 10-9-1946, Hội nghị Fontainebleau thất bại trước dã tâm của thực dân Pháp, phái đoàn Việt Nam rời Paris trở về nước. Bác quyết định ở lại nỗ lực để cứu vãn hòa bình. Đêm 14-9-1946, tại nhà riêng của Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet, cuộc hội đàm kéo dài đến 1 giờ sáng hôm sau. Bác trực tiếp ký bản Tạm ước 14-9-1946, kéo dài thời gian hòa hoãn để ta có thêm điều kiện chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Ngày Bác rời Paris, các bộ trưởng trong Chính phủ Pháp, nghị sĩ Quốc hội, quan khách quốc tế và kiều bào đứng chật kín hai bên đường. Trước khi lên đường, Người gửi lại một thông điệp đặc biệt: “Cả đời mình tôi đã đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Nhưng tôi luôn yêu quý và khâm phục nhân dân Pháp - một nước Pháp mới, một nước Pháp lên án chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, ủng hộ chúng tôi. Vì thế mà chúng tôi muốn hợp tác chân thành với nước Pháp để thực hiện những tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái”.

Ngày 18-9-1946, chiến hạm Dumont d’Urville kéo còi rời quân cảng Toulon (Pháp), lá cờ đỏ sao vàng phấp phới trên nóc tàu, để lại phía sau một thông điệp về một Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Cùng trở về với Người còn có những trí thức tài năng: Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Đình Quỳnh, Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước. Trên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân tại vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) để hội kiến với Cao ủy Pháp D’Argenlieu, một cuộc gặp lịch sử nhằm tìm kiếm cơ hội cuối cùng cho hòa bình.

XUÂN THÀNH

Kỳ cuối: Cuộc hội kiến lịch sử trên vịnh Cam Ranh