* Đồng chí Chamaléa Thị Thủy - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Khánh Hòa
Qua 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và triển khai Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác dân tộc, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến về hạ tầng, sản xuất và đời sống. Những kết quả và kinh nghiệm của Khánh Hòa, Ninh Thuận trước sắp xếp là cơ sở để tỉnh tiếp tục thực hiện tốt chính sách dân tộc, tạo điều kiện cho đồng bào chủ động phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và giảm nghèo bền vững.
Từ chủ trương đến những thay đổi ở cơ sở
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Khánh Hòa có 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 16 phường, 48 xã và 1 đặc khu. Toàn tỉnh có 34 DTTS với 266.284 người, chiếm 11,79% dân số; trong đó phần đông là dân tộc Raglai, Chăm và Cơ Ho. Tỉnh có 28 xã, phường thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, với 164 thôn, trong đó có 73 thôn đặc biệt khó khăn.
Đặc điểm địa bàn, điều kiện sản xuất và bản sắc văn hóa của các cộng đồng đặt ra yêu cầu thực hiện chính sách phù hợp với từng vùng. Trong suốt quá trình triển khai Nghị quyết số 24 và Kết luận số 65, công tác dân tộc luôn được Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo. Các cấp ủy, chính quyền chú trọng quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của công tác dân tộc; đồng thời cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành nghị quyết, chương trình, kế hoạch của địa phương.
Tại Khánh Hòa trước sắp xếp, Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 11-1-2021 về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 là cơ sở để tập trung lãnh đạo, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, Ninh Thuận triển khai Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 25-1-2022 về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả công tác dân vận tại vùng đồng bào.
Sự phối hợp giữa các sở, ngành và địa phương, cùng việc lồng ghép nguồn lực theo quy định, góp phần đưa chính sách vào thực tiễn. Giai đoạn 2021 - 2025, theo số liệu tổng hợp của cơ quan tài chính, tổng vốn ngân sách trung ương và địa phương phân bổ cho 3 chương trình mục tiêu quốc gia đạt hơn 3.380 tỷ đồng. Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được phân bổ hơn 1.920 tỷ đồng.
Nguồn vốn được triển khai theo mục tiêu, địa bàn và đối tượng của từng chương trình. Trong giai đoạn này, các địa phương đã hỗ trợ đất ở cho 526 hộ, xây mới nhà ở cho 1.688 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 2.865 hộ nghèo thiếu đất sản xuất; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 1.093 hộ và đầu tư 20 công trình nước sinh hoạt tập trung. Đây là những nội dung trực tiếp giải quyết nhu cầu thiết yếu, tạo điều kiện để đồng bào ổn định đời sống và sản xuất.
![]() |
| Sầu riêng là cây trồng chủ lực của người dân các xã khu vực Khánh Sơn. Ảnh: THANH LONG |
Để hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở, HĐND tỉnh Khánh Hòa trước sắp xếp đã ban hành Nghị quyết số 11/2023, ngày 21-7-2023 quy định mức hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương. Ngoài mức hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ của ngân sách trung ương, hộ nghèo thuộc phạm vi chính sách được địa phương hỗ trợ thêm 40 triệu đồng/hộ; hộ đủ điều kiện được tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách theo quy định.
Vốn tín dụng chính sách cũng góp phần mở rộng điều kiện phát triển sinh kế. Giai đoạn 2019 - 2024, tại Ninh Thuận trước sắp xếp, có 36.460 lượt hộ DTTS được vay vốn với tổng số tiền 1.440 tỷ đồng. Việc cho vay được kết hợp với hướng dẫn, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn và phổ biến những mô hình hiệu quả, giúp người dân nâng cao trách nhiệm trong đầu tư sản xuất.
Cùng với đầu tư hạ tầng và cải thiện chỗ ở, chuyển dịch cơ cấu sản xuất được quan tâm. Tại Khánh Hòa trước sắp xếp, vùng chuyên canh sầu riêng đạt khoảng 2.300ha, bưởi da xanh khoảng 700ha. Nhiều hộ đồng bào đã mạnh dạn ứng dụng khoa học, kỹ thuật, đầu tư sản xuất, trở thành điển hình làm kinh tế giỏi. Theo báo cáo năm 2024 của Ninh Thuận trước sắp xếp, địa phương hình thành 57 liên kết sản xuất với diện tích 14.267ha và 31 “cánh đồng lớn” với diện tích 4.242ha, góp phần tổ chức sản xuất tập trung và tăng cường liên kết với đơn vị sản xuất, kinh doanh.
Nâng cao đời sống, gìn giữ văn hóa, củng cố cộng đồng
Phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi được thực hiện đồng thời trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở. Theo số liệu ngành giáo dục, toàn tỉnh có 11 trường phổ thông dân tộc nội trú và 11 trường phổ thông dân tộc bán trú. Các chế độ đối với học sinh, người học ở vùng đặc biệt khó khăn và đội ngũ giáo viên được triển khai theo quy định. Sau sắp xếp, chính sách tiếp tục được rà soát để bảo đảm đúng đối tượng, không trùng lặp nội dung hỗ trợ.
Công tác đào tạo nghề gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm, cung cấp thông tin thị trường lao động và kết nối người lao động với doanh nghiệp được quan tâm. Mạng lưới y tế cơ sở từng bước được củng cố; điều kiện khám, chữa bệnh được tăng cường. Các địa phương quan tâm thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, phòng, chống suy dinh dưỡng và dịch bệnh.
Trong đời sống đồng bào, văn hóa truyền thống vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực phát triển. Việc kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy các giá trị văn hóa được duy trì cùng hoạt động bảo tồn lễ hội, nhạc cụ và nghề thủ công. “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022 là kết quả quan trọng, tạo cơ sở tiếp tục bảo vệ kỹ năng nghề, phát huy vai trò nghệ nhân và truyền dạy cho thế hệ trẻ.
![]() |
| Một điểm du lịch cộng đồng tại xã Đông Khánh Sơn. |
Các giá trị văn hóa Chăm, Raglai, nghề truyền thống và cảnh quan thiên nhiên là tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Định hướng khai thác những tiềm năng này luôn gắn với bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc, bảo đảm cộng đồng được tham gia và hưởng lợi.
Để thực hiện chính sách có hiệu quả, công tác dân vận và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị đối với cơ sở có ý nghĩa quan trọng. Khánh Hòa trước sắp xếp triển khai phương châm “tỉnh sát xã, huyện sát thôn, xã sát các hộ dân”, tổ chức 36 nhóm gồm 172 cơ quan, đơn vị hỗ trợ các xã. Giai đoạn 2019 - 2024, các nhóm huy động 16,32 tỷ đồng hỗ trợ vật tư, nhà tình nghĩa và thiết bị giáo dục. Cách làm này góp phần gắn nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị với nhu cầu thực tế của địa bàn được phân công.
Người có uy tín, già làng, trưởng tộc họ, chức sắc và các lực lượng nòng cốt tham gia tuyên truyền, vận động, hòa giải, phản ánh kiến nghị của đồng bào. Đến ngày 1-9-2026, tỉnh có 209 người có uy tín trong đồng bào DTTS. Các địa phương thường xuyên cung cấp thông tin, tổ chức tập huấn và thực hiện chế độ, chính sách đối với người có uy tín, giúp họ nắm rõ chủ trương, chính sách để tuyên truyền, vận động và phản ánh kiến nghị của đồng bào đến cấp ủy, chính quyền. Cùng với đó, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS được chú trọng, gắn đào tạo, bồi dưỡng với bố trí, sử dụng. MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội. Các mô hình tự quản góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa giải mâu thuẫn và củng cố đoàn kết. Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quan tâm bảo đảm theo quy định.
Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, phát huy nội lực của đồng bào
Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo tổng kết chỉ rõ kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi còn phát triển chậm so với mặt bằng chung của tỉnh. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn; khả năng tiếp cận chính sách, dịch vụ xã hội còn hạn chế, kết quả giảm nghèo thiếu bền vững. Đến cuối năm 2025, tỉnh còn 3.095 hộ nghèo DTTS, chiếm 5,72% tổng số hộ DTTS; có 4.579 hộ cận nghèo DTTS, chiếm 8,46%.
Khó khăn về đất đai, nguồn nước và tác động của biến đổi khí hậu tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất. Liên kết theo chuỗi giá trị, tiêu thụ sản phẩm và thu hút doanh nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng. Việc giải quyết thiếu đất sản xuất, bố trí tái định cư, hoàn thiện thủ tục đất đai và đáp ứng nhu cầu tín dụng ưu đãi còn vướng mắc. Một bộ phận người dân chưa chủ động ứng dụng kỹ thuật, đổi mới phương thức sản xuất và phát huy nội lực để vươn lên.
Sau sắp xếp, một số cán bộ, công chức cấp xã còn lúng túng trong tiếp nhận nhiệm vụ và xử lý nghiệp vụ. Dữ liệu phục vụ quản lý chưa được chuẩn hóa đầy đủ; việc chuyển tiếp chính sách khi địa bàn thay đổi phân loại còn nội dung cần rà soát, hướng dẫn.
Từ những vấn đề đó, nhiệm vụ thời gian tới là tiếp tục nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị, triển khai Kết luận số 65, Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các chủ trương, chính sách liên quan. Tuyên truyền phải phù hợp ngôn ngữ, văn hóa, điều kiện tiếp cận thông tin của từng cộng đồng; đi cùng hướng dẫn rõ điều kiện, thủ tục thụ hưởng, đối thoại và giải quyết kiến nghị.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trách nhiệm của sở, ngành và chính quyền cấp xã cần được phân định rõ. Quản lý hồ sơ, nguồn vốn và theo dõi đối tượng phải bảo đảm liên tục, không bỏ sót hoặc trùng lặp hỗ trợ. Việc bồi dưỡng cán bộ cơ sở tiếp tục gắn với kỹ năng lập kế hoạch, quản lý chương trình, dự án, kiểm tra và tổng hợp kết quả.
Nguồn lực được ưu tiên cho xã, thôn đặc biệt khó khăn và công trình thiết yếu; đầu tư gắn với quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng. Hỗ trợ sản xuất cần kết hợp kỹ thuật, tín dụng, đào tạo nghề và tiêu thụ sản phẩm. Mô hình được lựa chọn phải phù hợp đất đai, nguồn nước, nhu cầu thị trường và khả năng tham gia của hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.
Tỉnh tiếp tục rà soát nhu cầu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; tháo gỡ vướng mắc về tái định cư, thủ tục đất đai. Đối với nơi hạn chế quỹ đất sản xuất, thực hiện chuyển đổi nghề gắn với việc làm và sinh kế ổn định. Những nhóm có nguy cơ gián đoạn thụ hưởng chính sách do thay đổi phân định địa bàn cần được theo dõi để đề xuất hỗ trợ chuyển tiếp theo thẩm quyền, hạn chế tái nghèo.
Về cơ chế, chính sách, tỉnh kiến nghị Trung ương xem xét mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội đối với hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo, chuyển sang nhóm bảo trợ xã hội thay vì tiếp tục đưa vào diện thực hiện mục tiêu giảm nghèo; hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ thoát nghèo, thoát cận nghèo. Tỉnh cũng kiến nghị Trung ương có chính sách đặc thù thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Cùng với đó, tiếp tục thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích lực lượng trẻ và cán bộ khoa học, kỹ thuật về công tác tại các địa bàn này. Tỉnh cũng kiến nghị Trung ương có chính sách đặc thù thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, để tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Cùng với đó, tiếp tục thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích lực lượng trẻ và cán bộ khoa học, kỹ thuật về công tác tại các địa bàn này.
Kinh nghiệm từ quá trình thực hiện cho thấy, chính sách phát huy hiệu quả khi trách nhiệm của cơ quan thực hiện được xác định rõ, nhu cầu của đồng bào được nắm chắc và người dân được tham gia từ lựa chọn nội dung hỗ trợ đến giám sát, đánh giá. Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ căn cứ vào tiến độ giải ngân hay số hoạt động đã thực hiện, mà còn phải xem thu nhập, việc làm của đồng bào được cải thiện ra sao, người dân tiếp cận dịch vụ xã hội thuận lợi hơn chưa và kết quả có được duy trì lâu dài hay không. Đó cũng là yêu cầu để Khánh Hòa tiếp tục đưa chính sách dân tộc vào đời sống, phát huy nội lực của đồng bào và tạo sức bật từ cơ sở.
CHAMALÉA THỊ THỦY


![[Video] Ngày đầu tiên Lễ hội Katê 2026 tại Phước Hữu](/file/e7837c02857c8ca30185a8c39b582c03/102026/1791559602359_1500182675285637427_5292132705189364883_d84236a823b0b6450075267b93d61134_20261009223739.jpg?width=500&height=-&type=resize)




Thông tin bạn đọc
Đóng Lưu thông tin