Lên Khánh Sơn (Khánh Hòa) xem… lễ bỏ mả!

Thứ Bảy, 12/09/2009, 16:45 [GMT+7]

 

“Bỏ mả” là một lễ nghi quan trọng, độc đáo trong đời sống tâm linh của người Raglai. Người Raglai quan niệm, con người có 2 thế giới: thế giới người sống và thế giới người chết. Khi chết, linh hồn người chết vẫn chưa dứt được mối quan hệ với trần gian. Vì vậy, gia đình người chết phải làm lễ bỏ mả để họ về với ông bà tổ tiên, đầu thai kiếp khác.

 

° Lễ bỏ mả…

3 thầy cúng đang làm lễ tiễn đưa linh hồn người chết về với ông bà tổ tiên.

Đầu tháng 9, chúng tôi ngược lên Khánh Sơn xem lễ bỏ mả - lễ nghi quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Raglai. Tuy đã nhiều lần lên Khánh Sơn, nhưng chúng tôi chưa bao giờ được xem lễ bỏ mả; vì thế, khi biết Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND huyện Khánh Sơn tổ chức một lễ bỏ mả lớn để ghi hình làm tư liệu, chúng tôi rất háo hức.

 

Trong đời sống của người Raglai, có nhiều quan niệm, lễ nghi, tập tục hết sức độc đáo và mang đậm dấu ấn văn hóa như: lễ mừng lúa mới, lễ tạ ơn cha mẹ, lễ bỏ mả… Nhưng, lễ bỏ mả là như thế nào, tôi không mấy tường tận. Mãi đến trước khi đi, ông Mấu Quốc Tiến - nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Raglai mới cho biết: “Người Raglai quan niệm, con người có 2 thế giới: thế giới người sống và thế giới người chết. Khi chết, linh hồn người chết vẫn chưa dứt được mối quan hệ với trần gian mà còn lẩn khuất, trú ngụ trong "Cây vật thiêng", vì vậy phải làm lễ bỏ mả để họ về với ông bà tổ tiên, đầu thai kiếp khác”.

 

Quan trọng là vậy, nhưng người Raglai không mấy khắt khe. Thời gian để làm lễ bỏ mả không theo một chu kỳ nhất định. Người ta có thể tiến hành làm lễ bỏ mả ngay sau khi chết (nếu người chết không còn con cái, người thân thích), cũng có thể làm sau vài ba tháng, vài ba năm hoặc lâu hơn  nếu gia đình không đủ điều kiện kinh tế (nhưng không để quá 5 năm). Khi chưa làm lễ bỏ mả, hàng ngày, người trong gia đình ăn cái gì đều phải mời người chết ăn trước, nếu không mời sẽ bị phạt. Cách làm lễ bỏ mả của người Raglai cũng không theo một quy định nào. Người giàu thì làm lớn, người không có điều kiện thì làm nhỏ, chỉ cần có con gà để cúng người chết và ông bà tổ tiên là được.

 

° Những nét văn hóa độc đáo

 

Hôm ấy, lễ bỏ mả diễn ra ở nhà ông Mấu Xuân Danh (thôn Dốc Trầu, xã Ba Cụm Bắc). Bà Cao Thị Bông (vợ ông Danh) vừa mất đầu năm, bây giờ, gia đình làm lễ bỏ mả cho bà. Mới đến đầu thôn, chúng tôi đã nghe âm thanh của tiếng mã la (chiêng bằng) vang vọng, từng nhịp, từng nhịp xoáy vào lòng người. Đến nhà, chúng tôi nghe tiếng khóc than rấm rứt của con cháu, họ hàng, tạo nên một không khí buồn bã, ảm đạm. Quanh một bàn thờ được dựng trên một liếp sàn ngay trước nhà, thầy cúng cùng đội chiêng trống đang hát, nhảy múa. Hỏi ra mới biết, họ đang hát và múa điệu Tumaya - điệu múa đóng giả linh hồn người chết. Vừa múa hát, họ vừa đi vòng quanh Kagor - một vật được đẽo gọt, trang trí hết sức công phu với đầy đủ những hình thù chim muông, nhiều màu sắc. “Trong lễ bỏ mả của người Raglai, Kagor là vật không thể thiếu, đây là con thuyền đưa linh hồn người chết về với ông bà tổ tiên, để đầu thai kiếp khác” - ông Mấu Quốc Tiến, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Raglai cho biết. Chỉ có điều hơi lạ là các thầy cúng người Raglai không mặc trang phục truyền thống của mình mà lại mặc áo dài khăn đóng của người Kinh. Hỏi chuyện mới biết, trải qua những biến thiên của lịch sử, qua giao lưu văn hóa, người Raglai không còn giữ được trang phục truyền thống (nhất là nam giới) nên phải mượn trang phục của người Kinh để mặc làm lễ.

 

Sau những điệu múa hát, thầy cúng dẫn đội chiêng và bà con họ hàng, làng xóm lên nhà mồ (nơi trước đó đã chôn người mất). Nhà mồ được dựng trên một khu đất thoáng mát hướng về rừng núi, xung quanh là rẫy trồng ngô, lúa. Đó là một ngôi nhà mồ còn khá mới, mái lợp tranh, các cột được đục đẽo một cách khéo léo, trang trí nhiều hoa văn với màu sắc sặc sỡ. 4 cột chính của nhà mồ được vẽ nhiều hình thù tượng trưng cho đời sống của thế giới con người như: bầu trời, mây, rừng núi, muông thú, hoa quả. Ngoài các cột chính, nhà mồ còn có thêm 4 cột (cột đầu, cột chân và 2 cột hông) tượng trưng cho tài sản của người chết. Trên các cột này, những nghệ nhân người Raglai đục đẽo tạo hình các loại tài sản như: chén đĩa, chiêng, trống, nhà, ché rượu, xoong nồi, cối giã gạo… Khi đến nơi, các thầy cúng tiến hành làm lễ dặn dò người mất. Chúng tôi không hiểu lắm lời nói bằng tiếng Raglai của thầy cúng, nhưng hỏi ra mới biết, thầy dặn dò linh hồn người chết ngày hôm sau không được đi đâu để thầy lên rước về nhà gặp mặt người thân lần cuối trước khi về với ông bà tổ tiên.

 

Ngày hôm sau, khi những giọt sương đậu trên lá rừng chưa kịp tan, những người trong dòng họ của gia chủ cùng thầy cúng và đội chiêng trống lại rồng rắn lên nhà mồ, làm lễ rước linh hồn người mất về nhà “liên hoan” với gia đình, dòng họ, bà con lối xóm lần cuối cùng. Thầy bày đồ cúng, khấn gọi linh hồn người chết và xin được rước về nhà. Thầy cúng dẫn đầu đội mã la nhảy múa đi quanh nhà mồ 2 vòng. Giữa núi rừng quạnh quẽ, tiếng chiêng, trống ngân xa, xen lẫn tiếng khóc nức nở của người thân trong gia đình gợi nên không khí buồn bã… Buổi chiều, khi đã rước linh hồn người mất về nhà, 3 thầy cúng và đội chiêng trống tiến hành làm lễ mời cơm ông bà tổ tiên và người mất. Theo quan sát của chúng tôi, ngày đầu tiên chỉ có cau, trầu và rượu, còn ngày hôm nay, đồ lễ còn có thêm: cơm, thịt heo, gà, rượu cần, rượu trắng, trầu cau… Sau những lời khấn mời, thầy cúng lại múa theo nhịp điệu của đội chiêng trống đi vòng quanh Kagor 6 vòng, mời ông bà tổ tiên và linh hồn người mất ăn uống. Khi cây nhang đã cháy hết đồng nghĩa với việc ông bà tổ tiên và linh hồn người mất đã ăn xong. 3 thầy cúng ngồi xuống trước mâm đồ lễ xin phép được ăn uống những thức ăn mà ông bà tổ tiên và linh hồn người mất đã ăn (theo người Kinh là xin lộc của ông bà tổ tiên). Sau khi 3 thầy cúng ăn uống xong, những đồ lễ còn lại được trút hết vào một cái giỏ đặt bên cạnh Kagor (gọi là giỏ thức ăn của người mất). Ngày lễ quan trọng nhất trong lễ bỏ mả kết thúc khi trời chạng vạng tối.

 

Ngày thứ 3, gia đình dòng họ làm lễ chia tài sản (chia tượng trưng) cho người chết. Người sống có của cải gì đều chia cho người chết, từ thức ăn, rượu, đến các vật dụng trong gia đình như: chén đĩa, trống chiêng, quần áo… Một điều khá lạ, con cháu, họ hàng, làng xóm đến tiễn đưa linh hồn người chết về với ông bà tổ tiên đều mang theo một con gà sống để cúng cho người chết. Từ sáng sớm, chúng tôi nghe tiếng gà kêu oang oác từ đầu ngõ vào đến trong bếp. Tất cả gà đem đến đều được những người phục vụ đồ lễ làm thịt, luộc rồi đem bày xung quanh Kagor để làm lễ đưa lên nhà mồ. Trước khi xuất phát, thầy cúng và đội chiêng trống cùng con cháu, họ hàng, làng xóm ngồi xung quanh Kagor làm lễ. Con cháu, họ hàng than vãn, cầu xin: “Trước kia ăn ở với nhau cùng chung vui buồn, cùng chung tấm chăn mà bây giờ đâu còn nữa, xa cách rồi. Về bên kia nhớ phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt, sức khỏe dồi dào, mùa màng tươi tốt”.

 

Sau buổi lễ, thầy cúng dẫn đầu đoàn lễ đưa Kagor cùng giỏ đựng thức ăn lên nhà mồ. Những thanh niên to khỏe được chọn để khiêng Kagor. Dưới cái nắng oi bức, mồ hôi chảy ướt đầm cả áo, nhưng với trọng trách được giao, họ đã gắng hết sức mình đưa Kagor lên nhà mồ mà không một lời kêu than. Sau khi lắp Kagor lên nóc nhà mồ, thầy cúng tiến hành làm lễ. Đội chiêng trống lại tiếp tục nhảy múa xung quanh nhà mồ. Tiếp đó, thầy cúng đổ rượu cần vào một tô lớn để cho con cháu, họ hàng uống rượu lần cuối. Khi mọi người uống xong, chiếc tô lớn được em gái người mất đem chôn dưới chân cột nhà mồ, nhưng lại để hở một phần trên mặt đất. Ông Mấu Quốc Tiến giải thích: “Chôn tô lớn dưới chân cột nhà mồ là để linh hồn người mất sớm được về với ông bà tổ tiên, sớm được siêu thoát, nhập kiếp đầu thai”. Sau nghi lễ chôn tô, mọi người trở về nhà làm lễ ăn đũa đen. Thầy căn dặn con gái đầu của người mất: “Nhớ từ nay thay mặt người mất chăm sóc những người trong gia đình những lúc ốm đau, bệnh tật”. Lễ kết thúc khi mặt trời đã xuống núi. Lúc này, con cháu, họ hàng ca hát, nhảy múa vui mừng vì từ nay, linh hồn người chết đã về với ông bà tổ tiên, siêu thoát, đầu thai kiếp khác sẽ sung sướng hơn kiếp này.

 

Trên đường từ Khánh Sơn về xuôi, chúng tôi cứ nhớ mãi những nghi lễ đã diễn ra trong lễ bỏ mả. Gặp những thanh niên người Raglai tóc vàng hoe phi “ngựa sắt” như gió, chúng tôi chợt nghĩ, không biết rồi đây, những lễ nghi độc đáo như lễ bỏ mả và những bài cồng chiêng vang vọng núi rừng sẽ lưu giữ được bao lâu?

 

Ông Hình Phước Liên - Trưởng phòng Nghiệp vụ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch:

… Hiện nay, lễ bỏ mả không còn giữ được nguyên bản gốc mà đã có sự tiếp biến, thể hiện sự giao lưu, ảnh hưởng của văn hóa Chăm và Kinh như: trang phục của thầy cúng, lễ cúng, trang trí Kagor, nhà mồ… Việc giao thoa, du nhập văn hóa mới, tiến bộ hơn sẽ làm thay đổi nhận thức của người Raglai, góp phần loại bỏ những hủ tục trong đời sống của họ, tạo nên sự đa dạng của văn hóa Việt. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có ý thức bảo tồn, những nét văn hóa độc đáo của từng dân tộc rất có thể sẽ bị mất đi…

 

                                                                                                                                      V.G

 

.

các thông tin tiện ích